BÌNH DƯƠNG CHĂM LO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC-CÔNG NGHỆ
1-Công nghệ hiện đại và nguồn nhân lực hiện đại cho CNH-HĐH
Việt Nam đang thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm xương sống cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Để thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi phải có hai yếu tố cơ bản gắn bó chặt chẽ với nhau, đó là công nghệ hiện đại và nguồn nhân lực hiện đại. Công nghệ hiện đại có thể huy động vốn nhập về nhưng để có được nguồn nhân lực hiện đại có thể sáng tạo, vận hành tốt những thiết bị công nghệ hiện đại là bài toán hóc búa đặt ra cho các nhà quản lý, các nhà giáo dục và đào tạo. Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hay đào tạo thu hút, phát triển, sử dụng nguồn nhân lực là một trong những yêu cầu cấp bách để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Theo đó, trong bối cảnh nền KH&CN phát triển như vũ bão hiện nay, đào tạo, thu hút và sử dụng nhân lực KH&CN chất lượng cao là mối quan tâm hàng đầu. Tuy nhiên, nhân lực KH&CN Việt Nam vẫn đang tồn tại những vấn đề bất cập cần lưu tâm. Đó là: Lực lượng lao động trong lĩnh vực KH&CN phân bố không đồng đều giữa các vùng trong cả nước. “Có tới 92,2% cán bộ có trình độ tiến sĩ và tiến sĩ khoa học tập trung ở các cơ quan trung ương và hai thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh (Hà Nội có 63,8% TS và 75,9% TSKH), (thành phố HCM có 19,33% TS và 17,11% TSKH). Số tiến sĩ ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ chưa tới 1%. Trong số các giáo sư, phó giáo sư, có 86,2% ở Hà Nội và 9,5% ở thành phố Hồ Chí Minh, các nơi khác còn lại là 4,3%”[1].
Bên cạnh đó, nhân lực KH&CN chất lượng cao nước ta hiện nay cũng có những đặc điểm cơ bản đáng quan tâm: Một là, trình độ chuyên môn kỹ thuật đạt mức khá cao và cơ cấu ngành nghề đa dạng. Hai là, xét về mặt học vị, Việt Nam ở mức cao so với mức trung bình của khu vực. Tuy nhiên, ngoại ngữ và tin học là nguyên nhân cản trở quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nhân lực KH&CN. Ba là, về ngoại ngữ kỹ năng nghe, nói, viết rất hạn chế, khả năng giao tiếp rất khó khăn. Tại các hội thảo, thuyết trình, về cơ bản cán bộ Việt Nam đều phải thông qua phiên dịch. Bốn là, về tin học, cơ bản đội ngũ này đều sử dụng được máy tính, song số đông chủ yếu xử lý văn bản (43,5% sử dụng chương trình word, 13% sử dụng chương trình Excel, 12,2% sử dụng power point và chỉ có 7% sử dụng các phần mềm chuyên dụng). Tỷ lệ thường xuyên sử dụng tất cả các phần mềm kể trên chỉ đạt 22,6%. Nghịch lý ở chỗ, cán bộ giữ chức vụ càng cao thì chủ yếu sử dụng chương trình word để xử lý văn bản, các chương trình khác phải thông qua hệ thống nhân viên, tham mưu và chuyên gia”[2].
Có thể thấy, hiện tại, năng lực KH&CN của Việt Nam còn yếu, thiếu cán bộ đầu ngành, đặc biệt là thiếu cán bộ trẻ kế cận có trình độ cao. Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao, đặc biệt là các ngành mũi nhọn và các ngành khoa học mới. Thiếu sự liên kết hữu cơ giữa công tác nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo với thực tế sản xuất, kinh doanh.
Thị trường công nghệ chưa phát triển, các cơ chế chính sách về lĩnh vực này còn bỏ ngỏ hoặc chưa thống nhất, thiếu chặt chẽ. Vì vậy, vấn đề đào tạo, thu hút và phát triển nguồn nhân lực KH&CN là bài toán đang cần lời giải.
Mặt khác, từ xa xưa cha ông chúng ta đã xác định: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm đầu khi đất nước mới giành được độc lập, cũng chỉ rõ: “…Các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài, đức có thể làm được việc lợi dân, thì phải báo ngay cho chính phủ biết. Báo cáo phải nói rõ: tên người, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở của người đó. Hạn trong một tháng các cơ quan, địa phương phải báo cáo đủ”[3]. Như vậy, rõ ràng trong truyền thống lịch sử văn hóa dân tộc vấn đề đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài đã được quan tâm nhiều. Để thu hút và sử dụng hiệu quả nhân tài trước hết phải có chính sách phát hiện và lựa chọn, sử dụng nhân tài. Nhân tài cần được đối xử bằng những chính sách ưu đãi để họ có thể phát huy mọi năng lực phục vụ quốc gia.
Thực tiễn chỉ ra rằng, sự phát triển của KH&CN không những làm thay đổi diện mạo, vị thế của các quốc gia trên thế giới mà còn thay đổi hoàn toàn nhận thức của con người về vai trò của KH&CN như là một lực lượng sản xuất không thể thiếu. Nhận thức rõ được điều này, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng sự nghiệp phát triển KH&CN. Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: Phát triển KH&CN cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong bối cảnh đó, hơn bao giờ hết, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực KH&CN của Việt Nam đang được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư toàn diện. Đây chính là động lực góp phần nâng cao năng lực nội sinh của nước nhà về KH&CN phục vụ quá trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, đi tắt, đón đầu về KH&CN là chủ trương chiến lược của các quốc gia phát triển sau như Việt Nam trong cuộc đua bám đuổi với các quốc gia đi trước trên thế giới. Do đó, thu hút, đào tạo và sử dụng đội ngũ nhân lực KH&CN là một trong những chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta.
2-Những bước đi tắt đón đầu ở Bình Dương
Thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về giáo dục, đào tạo và phát triển nhân lực KH&CN đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, tỉnh Bình Dương đã có nhiều chương trình hành động, nhiều chính sách quan tâm đến phát triển nhân lực KH&CN. “Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhiều năm qua, Bình Dương luôn đạt mức tăng trưởng kinh tế cao và là địa phương nằm trong các tỉnh dẫn đầu cả nước về năng lực cạnh tranh (PCI). Một trong những yếu tố quan trọng tạo nên thành công của Bình Dương là tỉnh đã sớm quan tâm, chú trọng đến việc xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ (KH&CN) phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Bình Dương có số dân là 1.466.139 (tính đến 0 giờ ngày 01/04/2009 - Số liệu Cục Thống kê tỉnh), trong đó trên 50% ở độ tuổi lao động. Trước đây, cũng như nhiều địa phương khác, lực lượng lao động của Bình Dương tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, nên chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển công nghiệp luôn là bài toán khó. Để giải quyết vấn đề này, Bình Dương đã xây dựng chính sách “trải thảm đỏ thu hút nhân tài”. Trước tiên, Bình Dương tập trung vào công tác đào tạo đội ngũ cán bộ. Hàng năm, tỉnh khuyến khích và tạo điều kiện tốt nhất cho đội ngũ cán bộ các cấp đi học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Đặc biệt, Bình Dương cũng là một trong những địa phương đầu tiên thực hiện chính sách đãi ngộ để thu hút người tài và bước đầu đạt được những thành công đáng ghi nhận. Những sinh viên có kết quả học tập xuất sắc được tỉnh trợ cấp học phí. Những sinh viên tốt nghiệp loại giỏi tại các trường đại học khi đến Bình Dương sẽ được bố trí công việc theo nguyện vọng và được cấp kinh phí đào tạo để nâng cao trình độ. Không dừng lại đó, Bình Dương còn đẩy mạnh chương trình đào tạo cán bộ có trình độ đại học, sau đại học ở nước ngoài và xây dựng cơ chế phát huy tài năng đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ có trình độ khoa học cao ở các ngành để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đó là nền tảng để Bình Dương hình thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có trình độ và lực lượng lao động kỹ thuật cao.
Bên cạnh những chính sách thu hút cán bộ KH&CN, Bình Dương còn có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực một cách bài bản. Trên địa bàn tỉnh hiện có 7 trường đại học (trong đó có một số trường thuộc Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh), 7 trường cao đẳng, 12 trường trung cấp chuyên nghiệp và 30 cơ sở dạy nghề. Trong những năm qua, tỉnh đã chú trọng đầu tư cơ sở vật chất cho các trường. Bởi vậy, chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao. Mỗi năm, hệ thống cơ sở dạy nghề cung cấp khoảng 30 nghìn lao động đã qua đào tạo. Nguồn nhân lực tại chỗ này đã từng bước đáp ứng nhu cầu nguồn nhân công có trình độ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát huy những điều kiện này, trong giai đoạn tới, Bình Dương sẽ tiếp tục thực hiện những chính sách linh hoạt nhằm thu hút nhân tài. Đặc biệt, tỉnh sẽ đẩy mạnh liên kết với các trường đại học trong và ngoài nước, cấp học bổng cho những sinh viên xuất sắc để có nguồn nhân lực ổn định. Đồng thời, Bình Dương còn tăng cường hợp tác, liên kết đào tạo quốc tế để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tập trung nâng cấp các cơ sở dạy nghề tại các huyện, thị xã; đẩy mạnh công tác quy hoạch hệ thống các trường dạy nghề, khuyến khích các doanh nghiệp mở trường dạy nghề và đa dạng hóa các hình thức đào tạo. Trong niên khóa 2010-2011, Bình Dương sẽ đưa vào hoạt động thêm 2 trường đại học mới xây dựng: Trường Đại học quốc tế miền Đông (quy mô đào tạo đến 2020 là 24.000 sinh viên) và Trường đại học Thủ Dầu Một (quy mô đào tạo năm 2011 là 13.000 sinh viên, đến 2020 là trên 20.000 sinh viên).
Đối với cán bộ công chức, hàng năm, Bình Dương đều có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thêm về tin học, ngoại ngữ và bồi dưỡng các nghiệp vụ ngắn hạn, dài hạn…”[4]. Tuy nhiên, nguồn nhân lực đặc biệt là nhân lực KH&CN của tỉnh Bình Dương vẫn tồn tại những bất cập: trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhân lực KH&CN chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu vẫn còn tồn tại ở các cơ quan, đơn vị; số cán bộ, công chức, viên chức có trình độ sau đại học còn ít; chưa hợp lý về cơ cấu ngành nghề .v.v... Bên cạnh đó, “công tác giáo dục, đào tạo chưa gắn với kế hoạch sử dụng, quá trình đào tạo lại, đào tạo theo chức vụ, đào tạo tại chỗ chưa được quan tâm đúng mức; chưa đảm bảo yêu cầu bồi dưỡng trước khi đề bạt, bổ nhiệm; chưa tập trung đào tạo một số ngành mũi nhọn; công tác triển khai, đào tạo cán bộ, công chức, viên chức ở nước ngoài tiến hành còn chậm..”[5]
Từ năm 2006 đến 2010, UBND tỉnh Bình Dương, tỉnh uỷ Bình Dương đã ban hành nhiều chính sách về đào tạo, thu hút và sử dụng nhân lực KH&CN: “Quyết định Ban hành Quy định về chính sách đào tạo, thu hút và sử dụng nhân lực tỉnh Bình Dương” (2006); “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thức VIII về “Đào tạo, thu hút và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 - 2010”” của tỉnh uỷ Bình Dương ngày 22/6/2007, “Quyết định về việc ban hành Quy chế tuyển chọn đạo tạo đại học, sau đại học ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước” (2007). “Quyết định về việc phê duyệt dự án đào tạo trong nước 300 cán bộ, công chức, viên chức có trình độ sau đại học tỉnh Bình Dương giai đoạn 2006 – 2010” (2007); "Quyết đinh về việc phê duyệt dự án đảm bảo nguồn nhân lực cho đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước tỉnh Bình Dương đến năm 2010”; "Chính sách thu hút, chế độ hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bình Dương; Chính sách thu hút người có học hàm, học vị về công tác tại Trường Đại học Thủ Dầu Một (2009); “Quyết định về việc ban hành đề án thực hiện thí điểm thi tuyển Trưởng phòng, Phó trưởng phòng (tương đương), các sở ngành huyện thị tỉnh Bình Dương”(2010), “Quyết định về việc ban hành đề án thực hiện thí điểm thi tuyển Trưởng phòng, Phó trưởng phòng (tương đương), các sở ngành huyện thị tỉnh Bình Dương” (2010).v.v.. vào thực hiện. Lãnh đạo tỉnh Bình Dương luôn coi trọng và đánh giá cao vai trò quan trọng của nhân lực KH&CN của tỉnh. Tuy nhiên, để thực hiện tốt vai trò của mình, nhân lực KH&CN của tỉnh cũng cần được hỗ trợ nhiều hơn từ hệ thống các chính sách phát triển KH&CN. Đây là điều mà rất nhiều các địa phương khác đã và đang làm. Do đó việc rà soát, đánh giá hiệu quả, điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống chính sách đào tạo, thu hút và sử dụng nhân lực KH&CN ở tỉnh Bình Dương là vấn đề hết sức bức thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao.
HOA ANH
(Nguồn: Đề tài khoa học XH-NV ”Tổng kết thực tiễn, đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách đào tạo, thu hút và sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Bình Dương” do Công ty Edtech chủ trì triển khai thực hiện, chủ nhiệm đề tài là GS-TSKH Tô Duy Hợp)
[1] Theo số liệu của Viện Khoa học Lao động Xã hội - Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội, đến cuối năm 2007.
[2] Trích: Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao http://www.tapchicongnghiep.vn/News/PrintView.aspx?ID=19380
[3] Báo Cứu quốc, số 411, ngày 20-11-1946 đăng lời dạy của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về “Tìm người tài đức”.
Bất kỳ một quá trình giáo dục nào mà một con người tham gia cũng nhằm tạo ra những biến đổi nhất định trong con người đó. Muốn biết những biến đổi đó xảy ra ở mức độ nào phải đánh giá hành vi của người đó trong một tình huống nhất định.
Trong mấy năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương đưa phương pháp trắc nghiệm khách quan vào áp dụng trong các kỳ thi quốc gia và sử dụng một phần ở các bậc học.









