Chọn ngôn ngữ: Tiếng việt   English
Lý luận nghiên cứu
Lý thuyết ứng đáp câu hỏi trắc nghiệm

GS. TSKH. LÂM QUANG THIỆP

1. Yêu cầu về tính khách quan của phép đo dùng ĐTN

Trắc nghiệm là một phép đo. Cũng như mọi phép đo khác trong khoa học và đời sống, ở phép đo bằng trắc nghiệm ta cũng có một thước đo và một đối tượng đo

Đào tạo bồi dưỡng
Xuất bản sách "Trắc nghiệm và ứng dụng"
Trong mấy năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương đưa phương pháp trắc nghiệm khách quan vào áp dụng trong các kỳ thi quốc gia và sử dụng một phần ở các bậc học.
Thời tiết
Bạn đang xem Lý luận-Nghiên cứu Phương pháp dạy và học Công nghệ mới với việc dạy và học trong nhà trường

Công nghệ mới với việc dạy và học trong nhà trường

E-mail Print PDF

GS.TSKH. LÂM QUANG THI

Chủ đề này nhằm giúp học viên: - Nhận thức được những quan niệm tổng quát nhất vềhọc, về dạy và vai trò của người học, người dạy theo cách tiếp cận thông tin. Nắm được các tiêu chí để lựa chọn phương pháp dạy và học ở bậc đại học trong thì kỳ mới. - Nắm được khái niệm và phân loại về công nghệ phục vụ giáo dục và hiểu rõ vai trò của công nghệ thông

tin và truyền thông mơí đối với xã hội loài người và đối với giáo dục; -Làm quen với một vài loại công nghệ, đặc biệt là các công nghệ hiện đại có tác dụng nâng cao rõ rệt hiệu quả dạy và học. Biết cách hướng đến làm chủ được các công nghệ đó phục vụ việc dạy và học; - Đồng thời thấy được những mặt trái của việc sử dụng công nghệ mới và biết phương hướng khắc phục… Từ các nhận thức nêu trên học viên xác định được phương hướng phấn đấu để đảm đương được sứ mạng của nhà giáo cao đẳng, đại học trong thời kỳ mới. ¨

1. QUAN NIỆM VỀ DẠY VÀ HỌC THEO CÁCH TIẾP CẬN THÔNG TIN

1.1. Quan niệm về dạy và học

Có lẽ các nhà tâm lý học và giáo dục học sư phạm đã tốn không ít giấy mực để tranh luận về chủ đề vừa cổ xưa vừa luôn luôn mới mẻ: thề nào là học, thế nào là dạy? Ở đây, để bàn về phương pháp và công nghệ dạy và học trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thông tin, chúng tôi chỉ xin nêu những quan niệm mà chúng tôi cảm thấy có phần hợp lý từ cách tiếp cận thông tin. Trước hết xin nêu một quan niệm về HỌC (M. Develay, 1994)

Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách chọn nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trường xung quanh. Rõ ràng định nghĩa này rất rộng, nó bao gồm các yếu tố: thông tin từ môi trường xung quanh, thu thậpxử lý, và tự biến đổi bản thân. Từ quan niệm đó, có thể đưa ra một quan niệm sóng đôi với nó về DẠY (Lâm Quang Thiệp, 2000):

Dạy là việc giúp cho người học tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng và hình thành hoặc biến đổi những tình cảm, thái độ.

Theo quan niệm này, dạy không phải là truyền thụ kiến thức, càng không phải cung cấp thông tin đơn thuần, mà chủ yếu là giúp người học tự mình chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, thay đổi tình cảm và hình thành thái độ. Để có thể giúp người học trong việc chọn nhập và xử lý thông tin, người dạy học phải trải nghiệm các quá trình đó. Một hoạt động trải nghiệm quan trọng tạo giúp người học tích lũy được kinh nghiệm chọn nhập và xử lý thông tin chính là nghiên cứu khoa học. Do đó người dạy, nhất là người dạy ở bậc đại học, phải gắn liền với nghiên cứu khoa học theo nghĩa rộng của thuật ngữ này, từ mức độ thấp nhất gắn liền với việc đào sâu tìm hiểu môn học, đến mức độ cao sáng tạo ra công trình và sản phẩm khoa học và công nghệ.

1.2. Về phương pháp sư phạm tương tác và quan niệm dạy học lấy người học làm trung tâm

- Trong tác phẩm "Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác" (Denommé & M. Roy, 2000) các tác giả đã nêu 3 tác nhân mà phương pháp đó quan tâm: người học, người dạymôi trường. Họ nhấn mạnh: người học là người đi học chứ không phải người được dạy (tính tự nguyện và chủ động), nhiệm vụ của người dạy là giúp đỡ người học, phục vụ người học để làm nảy sinh tri thức ở người học, còn môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh và bên trong người học là tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến việc dạy và học. Các tác nhân này hợp thành một bộ ba có thể biểu diễn bằng 3E theo tiếng Pháp (étudiant, enseignant, environnement). Theo cách tiếp cận thông tin đã nêu trên, môi trường chính là nơi chứa thông tin.

- Khi biểu diễn mối quan hệ giữa các yếu tố quan trọng nhất trong quá trình dạy và học: mục tiêu (MT), nội dung (ND) và phương pháp (PP), nếu đặt 3 yếu tố ở 3 đỉnh của một tam giác thì cả 3 yếu tố đó có tương quan với nhau nhưng đều hướng vào cái đích chung là người học, "lấy người học làm trung tâm" (Nguyễn Ngọc Quang, 1998):

 

Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ giữa mục tiêu nội dung phương pháp và người học

 

Qua những lý giải trên đây, chúng ta có thể thấy sự vận động của nhân tố người học là quan trọng nhất để làm cho hoạt động HỌC thật sự được diễn ra nâng cao hiệu quả của quá trình dạy và học. Đó là lý do vì sao chúng tôi muốn nêu việc phát huy tính CHỦ ĐỘNG của người học là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quá trình dạy và học ở đại học.

2. VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC Ở ĐẠI HỌC TRONG THỜI KỲ MỚI

2.1. Thời kỳ mới của đất nước

- Với sự phát triển cực kỳ nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông mới (CNTTTTM - new information and communication technology - NICT), nhân loại đang bước đầu quá độ sang nền kinh tế tri thức. Từ trên nền tảng đó, cùng với những biến đổi lớn lao về chính trị xã hội vào các thập niên vừa qua, xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ đang diễn ra trên thế giới. - Ở nước ta, sau gần hai thập niên thực hiện đường lối “đổi mới”, chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang "nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa và từng bước phát triển kinh tế tri thức…” chúng ta đã đạt được nhiều thành quả. Trong bối cảnh quốc tế nêu trên, ở nước ta không chỉ có sự “đổi mới”, chuyển sang nền kinh tế thị trường, mà còn có xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa. Có thể nói bối cảnh quốc tế và trong nước nêu trên đã tạo nên một thời kỳ mới đối với đất nước.

2.2. Về phương pháp dạy và học ở đại học trong thời kỳ mới

Để xác định phương pháp dạy và học đại học trong thời kỳ mới của của đất nước, chúng ta hãy phân tích kỹ một đặc điểm của thời kỳ này: đó là đặc điểm về sự phát triển công nghệ. - Nhân loại đã từng sử dụng công nghệ và phương tiện vào việc dạy và học từ xa xưa, nhưng chưa bao giờ khoa học và công nghệ có những bước tiến phi thường như ngày nay. Ở đây chúng ta sẽ chỉ giới hạn nói về lĩnh vực CNTTTTM, công nghệ phát triển nhanh nhất, tạo nên những thành tựu bất ngờ nhất, và trực tiếp khai sinh nền kinh tế tri thức. Với CNTTTTM, một cuộc cách mạng giáo dục thật sự đang và sẽ xảy ra đối với nhân loại (World Conference on Higher Education,1998). Chúng ta sẽ phân tích kỹ hơn về sự phát triển của CNTTTTM trong phần sau, tuy nhiên ở đây có thể nói sự tăng trưởng nhanh chóng của công nghệ đó đã tác động to lớn và toàn diện đến xã hội loài người, và hiển nhiên cũng tác động mạnh mẽ trực tiếp đến giáo dục. Các phân tích thống kê cho biết rằng khối lượng thông tin và tri thức đã và đang tăng theo hàm mũ (đối với các loại khoa học cơ bản tri thức tăng gấp đôi sau 5-7 năm, còn đối với các loại khoa học và công nghệ mới thì tri thức tăng gấp đôi sau 5-7 tháng!). Trong tình hình đó, cách học nói chung và đặc biệt là cách học ở đại học không thể giữ nguyên như khoảng nửa thế kỷ trước đây. Nếu trước kia người ta có thể sử dụng thời gian 4, 5 năm đại học để trang bị một vốn tri thức về một nghề nghiệp cao cấp nào đó cho một học viên để anh ta sử dụng hầu như trong cả cuộc đời hành nghề của mình, thì ngày nay điều đó là hoang tưởng. Với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, vòng đời của mọi công nghệ đều rất ngắn, tri thức tiếp thu được qua mấy năm học ở đại học lạc hậu rất nhanh. Nếu vẫn tập trung vào mục tiêu trang bị tri thức, thì dù có kéo dài bao nhiêu lần thời gian học ở đại học cũng không giải quyết được mâu thuẫn đã nêu. Trong trường hợp đó, không có cách nào khác là chỉ trang bị kiến thức nền tảng, kỹ năng cơ bản dạy cách học cho học viên, tạo cho họ khả năng, thói quen và niềm say mê học tập suốt đời. - Với yêu cầu vừa nêu về mục tiêu việc dạy và học ở bậc đại học, cần lựa chọn các phương pháp nào để dạy và học? Phương pháp dạy và học có rất nhiều và rất đa dạng, có thể tìm trong nhiều sách và tạp chí nghiên cứu về giáo dục. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng ở đây không thể và không nên khuyến cáo bằng một danh mục cụ thể các phương pháp dạy và học, mà chỉ nên bàn về các tiêu chí mà ta có thể dựa vào đó để lựa chọn phương pháp. Sau đây chúng tôi đề nghị 3 tiêu chí quan trọng để lựa chọn phương pháp dạy và học ở đại học.

a. Trước hết cần quan niệm việc DẠY CÁCH HỌC, HỌC CÁCH HỌC để tạo thói quen, niềm say mê và khả năng học suốt đời là tiêu chí bao quát hàng đầu của việc dạy và học ở đại học. Mọi phương pháp dạy, phương pháp học, nội dung cần dạy, nội dung cần học đều phải xuất phát từ đó. Trong chương trình đào tạo đại học nói chung phải chú trọng loại kiến thức nền tảng chứ không phải loại kiến thức về một quy trình cụ thể, vì kiến thức nền tảng tạo cho người học một cái nền vững chắc để tiếp tục học tập những thứ cụ thể khác. Cũng vậy, kỹ năng cơ bản là công cụ để học suốt đời (chẳng hạn, kỹ năng đọc hiểu, kỹ năng về một ngoại ngữ quan trọng …chứ không phải kỹ năng sử dụng một cái máy cụ thể, kỹ năng thao tác một quy trình cụ thể). Trong từng lĩnh vực, từng môn học có rất nhiều nội dung để dạy, người giảng viên phải biết chọn nội dung gì, vấn đề gì mà khi học thì học viên được rèn luyện năng lực tư duy cao cấp, được học cách học tốt nhất. Ngoài ra, bằng cách khêu gợi sự tò mò, bằng cánh tạo sự hấp dẫn của tri thức và bằng tấm gương học tập của chính bản thân mình, giảng viên cố gắng tạo nên niềm say mê học tập cho học viên.

b. Tiếp đến, tính CHỦ ĐỘNG CỦA NGƯỜI HỌC là tiêu chí về phẩm chất quan trọng cần tập trung phát huy khi dạy và học ở đại học. Trong những năm gần đây các nhà sư phạm trên thế giới và ở nước ta thường bàn đến các quan điểm sư phạm, các cách tiếp cận trong việc dạy và học. Cách tiếp cận lấy người học làm trung tâm hoặc hướng vào người học được nhiều người tán thưởng. Chúng tôi cũng nhất trí với quan điểm này, vì nó cho thấy mục tiêu cuối cùng của quá trình dạy và học, và bởi lẽ việc học thực chất là có tính cá nhân (individual). Khi nói đến quan điểm lấy người học làm trung tâm nguyên tắc quan trọng nhất là phát huy tính chủ động của người học. Quan điểm về dạy và học từ cách tiếp cận thông tin nêu ở mục

1.1. cũng cho thấy rõ tính cá nhân của việc học. Người thầy trong quan niệm này ở vị trí ẩn, tác động bằng cách giúp người học chọn, nhậpxử lý thông tin. Quan niệm của phương pháp sư phạm tương tác nêu ở mục

1.2. cũng không mâu thuẫn với các quan niệm lấy người học làm trung tâm, mà chỉ nhấn mạnh hơn vai trò của tương tác, tức là cho thấy rõ tính chất động của quá trình dạy và học. Trong quá trình giảng dạy, bản thân việc tăng sự tương tác cũng thúc đẩy tính chủ động của người học. c. Trong thời đại hiện nay CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG MỚI là tiêu chí về công cụ quan trọng cần triệt để khai thác khi dạy và học ở đại học. Sử dụng công nghệ trong dạy và học là chuyện bình thường trước đây, vậy tại sao ngày nay người ta lại rất nhấn mạnh đến việc sử dụng công nghệ mới? Trước hết, như đã nêu trước đây, chúng ta đang sống trong thời đại mà khối lượng thông tin và tri thức tăng nhanh theo hàm mũ, đó là hệ quả của sự tiến bộ nhảy vọt của CNTTTTM. Trong khung cảnh đó, cũng chính CNTTTTM có thể giúp con người chọn nhập và xử lý thông tin nhanh chóng để biến thành tri thức. Ngoài ra, công nghệ mới là một khía cạnh văn hoá của thế giới mới, và như mọi thứ văn hoá, nó sẽ được tiếp nhận tốt nhất ở tuổi trẻ, nó giúp người học định hướng tư duy và thái độ của mình trong thời kỳ mới. Từ đó cần qua dạy và học làm cho thế hệ trẻ nhanh chóng làm quen và sử dụng công nghệ mới một cách đúng đắn, để hình thành phong cách văn hoá mới. Tóm lại, trong bối cảnh của thời kỳ mới và trong giai đoạn mới của sự phát triển GDĐH, có thể đề xuất 3 tiêu chí quan trọng để dựa vào khi chọn một hệ phương pháp dạy và học cho từng trường hợp cụ thể: · Tiêu chí bao quát hàng đầu của việc dạy và học là dạy CÁCH HỌC; · Phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính CHỦ ĐỘNG của người học; · Công cụ cần khai thác triệt để là CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRUYỀN THÔNG MỚI. Để dễ nhớ, có thể gọi đây là hệ tiêu chí 3C để lựa chọn phương pháp dạy và học ở đại học trong thời kỳ hiện nay (Lâm Quang Thiệp, 2005). Trong "Nghị quyết về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020” số 14/2005/NQ-CP của Chinh phủ ban hành ngày 2/11/05 đã nêu 3 tiêu chí trên khi nói về việc đổi mới phương pháp dạy và học trong các trường đại học (Nghị quyết 14, 2005).

3. QUAN NIỆM VỀ CÔNG NGHỆ DẠY HỌC VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC

3.1. Công nghệ dạy học là gì?

Trước hết cần hiểu thế nào là công nghệ dạy và học. Công nghệ theo chữ latin được ghép từ technic (công cụ và vật liệu) và logic (các cách tiếp cận khác nhau đề giải quyết vấn đề). Thuật ngữ công nghệ được áp dụng vào quá trình dạy học bao gồm các cách tổ chức các hoạt động để đạt được các mục tiêu giáo dục cũng như các vật liệu và thiết bị được sử dụng trong quá trình giáo dục.

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về công nghệ dạy học trong giới không chuyên. Tuy nhiên, các chuyên gia về lĩnh vực này thường quan niệm công nghệ dạy học là một quá trình tích hợp phức tạp trong đó các vấn đề liên quan với mọi khía cạnh của việc học được khái niệm hoá, phân tích, xây dựng và quyết định thông qua sự tương tác giữa con người, kỹ thuật, ý tưởng và các nguồn lực giữa một khung cảnh tổ chức nào đó (Yapi A., 1997).

Nói gọn hơn, công nghệ dạy học là một quá trình khoa học trong đó các nguồn nhân lực và vật lực được sử dụng để nâng cao hiệu quả việc giảng dạy và học tập. Với góc độ đó, công nghệ dạy học được quan niệm như một sản phẩm (product) và như là một quá trình (process). - Với quan niệm như một sản phẩm, công nghệ dạy học bao gồm các quy trình, sự thực hành và vật liệu để dạy học. Sản phẩm phải bao gồm sản phẩm không-thực thể (non-physical) (học tập chương trình hoá, học tập cá thể hoá, kỹ năng dạy học …) và sản phẩm thực thể (physical) (máy ghi âm, máy video, máy vi tính, máy chiếu, ..). - Với quan niệm như một quá trình, công nghệ dạy học bao gồm các chức năng liên quan với việc quản lý các tổ chức và nguồn nhân lực, việc nghiên cứu, đảm bảo hậu cần, sử dụng và thiết lập các hệ thống. Có nhiều cách phân loại công nghệ, nhưng để phù hợp với cách tiếp cận thông tin, chúng tôi cho rằng có thể phân thành hai loại: công nghệ cổ điểncông nghệ hiện đại. Công nghệ hiện đại, khác với công nghệ cổ điển, là các công nghệ gắn với CNTTTTM.

3.2. Vì sao phải sử dụng công nghệ trong dạy và học?

- Về công nghệ dạy và học nói chung. Tác dụng của các giác quan trong việc tiếp nhận và lưu giữ tri thức: Công nghệ nói chung là một hợp phần của môi trường, người dạy, người học, có tác dụng hỗ trợ các tương tác trong quá trình dạy và học. Công nghệ giúp tối đa hoá thời gian mà việc học tập thật sự diễn ra, tối thiểu hoá các lao động cấp thấp, tạo thuận lợi cho các mối quan hệ tương tác. Để hiểu rõ hơn vai trò của công nghệ và phương tiện dạy học, sau đây xin dẫn vài số liệu thống kê nêu tác dụng của các loại giác quan trong quá trình thu nhận và lưu giữ tri thức. Tỷ lệ trung bình về vai trò của các giác quan trong việc thu nhận tri thức như sau (Trần Xuân Giáp, 1998):

+ Vị giác: 1%
+ Xúc giác: 1,5%
+ Khứu giác: 3,5%
+ Thính giác: 11%
+ Thị giác: 83%

Tỷ lệ tri thức còn lưu lại trong trí nhớ sau khi thu nhận bằng từng giác quan, bằng sự kết hợp các giác quan hoặc qua việc tự trình bày hoặc qua việc thao tác thực hiện, như sau (9):

 
+ Nghe: 20%
+ Nhìn: 30%
+Nghe và Nhìn: 50%
+ Tự trình bày: 80%
+ Tự trình bày và làm: 90%

Sự tổng kết này được phản ánh trong câu ngạn ngữ của Việt Nam : “trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm, hoặc câu ngạn ngữ của nước ngoài: “nghe thì quên, nhìn mới nhớ, làm thì hiểu. Các quy luật tâm sinh lý nêu trên cần được đặc biệt lưu ý khi lựa chọn công nghệ và phương tiện nói chung để hỗ trợ việc dạy và học. - Đối với công nghệ mới, vấn đề sử dụng chúng vào quá trình dạy và học lại có tầm quan trọng lớn hơn, như đã phân tích ở mục 2.2.c. Trước việc khối lượng thông tin tăng nhanh theo hàm mũ, chỉ nhờ cũng công nghệ mới đó mới có thể nhanh chóng chọn nhập và xử lý thông tin để biến thành tri thức. Ngoài ra, cần qua công nghệ mới làm cho thế hệ trẻ nhanh chóng hình thành phong cách văn hoá mới.

4. VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG MỚI ĐỐI VỚI XÃ HỘI VÀ GIÁO DỤC

4.1. Sự phát triển của máy tính điện tử và công nghệ thông tin

Thông tin là cơ sở cho tri thức.Thông tin được xử lý, được con người nhận thức thì biến thành tri thức. Như vậy thông tin là tài nguyên quan trọng của xã hội, của nền kinh tế. Xã hội càng phát triển thì khối lượng thông tin ngày càng lớn và vai trò của thông tin ngày càng cao. Từ khi có máy tính điện tử việc tính toán và xử lý thông tin mới thật sự phát triển nhanh chóng, và CNTT mới trở thành một lĩnh vực quan trọng. Trong các máy tính điện tử đầu tiên, thế hệ1, có thể kể đến các chiếc máy tính điện tử dùng 1500 bóng đèn chân không của Colossus giúp quân đội Anh giải mã một thông báo quân sự mật của Đức năm 1943 và máy ENIAC (electronic numerical intergrator and computer) dùng 18000 bóng đèn chân không của Mỹ được cấp bằng sáng chế năm 1945. Tiếp đến các thế hệ máy tính điện tử thứ 2 dùng transitor vào thập niên 1950, thế hệ thứ 3 dùng mạch tích hợp IC (integrated circuits) vào thập niên 1960 và thế hệ thứ 4 từ giữa thập niên 1970 dùng các bộ vi xử lý tích hợp lớn (microchip) với hàng nghìn transitor nối với nhau và gắn kết trên bản mặt silicon. Người ta hình dung máy tính điện tử thế hệ thứ 5 sắp tới là các máy tính có mức độ "sáng tạo" cao, có thể xử lý song song nhiều bài toán cùng nột lúc, bộ xử lý mô phỏng theo cấu trúc của mạng nơron não người. Về mặt vật lý và cấu tạo, máy tính điện tử sẽ ngày thu nhỏ nhờ công nghệ nano và siêu dẫn, và càng trở nên siêu tốc nhờ thay việc xử lý các xung điện bằng việc xử lý các xung ánh sáng nhanh và nhạy hơn nhiều lần. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của máy tính điện tử, CNTT cũng đi vào những giai đoạn phát triển cao. Qua giai đoạn thủ công (xử lý thông tin chủ yếu bằng tay) giai đoạn cơ khí (nhờ sự giúp đỡ của một số máy tính cơ học) hiện CNTT ở giai đoạn phát triển tự động hoá và đang đi vào giai đoạn "thông tin thông minh". Một chiến tích có tính tiêu biểu về trí thông minh của máy tính điện tử là việc máy tính Deep Blue của hãng IBM đã đánh thắng nhà vô địch cờ vua thế giới Kasparov vào năm 1997. Máy tính đã hỗ trợ làm tăng khả năng lao động trí óc của con người lên gấp nhiều lần.

4.2. Những thành tựu kỳ diệu của công nghệ thông tin - truyền thông mới Với dung lượng bộ nhớ ngày càng lớn và tốc độ xử lý ngày càng nhanh, máy tính có thể tính toán cực nhanh và xử lý nhiều quá trình hết sức phức tạp: âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, video .., và tổng hợp tất cả các khả năng ấy gọi là đa phương tiện (multimedia). Các bộ vi xử lý của máy tính điện tử thâm nhập vào mọi loại máy móc thiết bị trong mọi lĩnh vực: trong các máy cơ điện tử, trong các máy thông dụng như điện thoại, fax, radio, TV, các náy văn phòng, các máy sử dụng trong gia đình ..Từ đó xuất hiện các khái niệm mới như là "nhà xuất bản trên mặt bàn" (desktop publishing)..Như vậy, công nghệ thông tin đã làm cho các lĩnh vực in ấn, xuất bản, báo chí, thông tấn, truyền hình, truyền thanh hội tụ với nhau. Một bước nhảy vọt của CNTT là sự ra đời của mạng máy tính. Ban đầu việc kết nối các máy tính cá nhân (PC - personal computer) thành mạng có mục đích tăng bộ nhớ và khả năng giải quyết đồng thời nhiều bài toán khác nhau như các máy siêu tính lớn (maiframe), nhưng về sau hiệu quả của mạng máy tính còn lớn lao hơn nhiều. Mạng máy tính quy mô lớn đầu tiên là mạng aparnet xuất hiện ở Bộ Quốc phòng Mỹ vào đầu năm 1973. Vinton Cerf là người chủ trì thiết kế mạng này và đưa ra công nghệ tiêu chuẩn hoá mạng máy tính, ngày nay gọi là các Giao thức Internet (Internet Protocol). Người ta xem mạng máy tính toàn cầu Internet thật sự ra đời vào năm 1993, khi Phó Tổng thống Mỹ Al Gore chính thức thông báo việc khai trương các xa lộ thông tin. Cho đến nay (18/9/2006), theo Internet World Stats, có 1,09 tỷ người trên thế giới sử dụng Internet. Sau khi chuyển giao Internet cho tổ chức tư nhân thương mại, từ 1955 có 150 trường đại học Mỹ hợp tác với nhau và với nhiều công ty nổi tiếng khác nghiên cứu nâng cao chất lượng Internet trong chương trình Internet-2, nhằm tăng tốc độ truyền tin để phục vụ các nhu cầu về thương mại điện tử, giáo dục từ xa với công nghệ hiện thực ảo sẽ nêu dưới đây. Hiện nay tốc độ Internet-2 sử dụng ở một số địa phương Mỹ đã đạt mức Gigabit/sec. Để đưa thông tin lên mạng máy tính người ta sử dụng các siêu phương tiện tạo nên các trang Web để giới thiệu từng tổ chức và cá nhân, làm các đầu mối cung cấp và truy cập thông tin. Một công cụ quan trọng để liên lạc qua các mạng máy tính là thư điện tử (e-mail) hiện đang trở thành phổ biến trên toàn thế giới. Để truyền các thông tin sinh động, truyền các hình ảnh như thật trong không gian ba chiều, người ta sáng chế ra các hệ thống tạo hình ảnh mà trong đó người xem có thể tương tác được với hình ảnh, được điều khiển đồng bộ bằng computer, gọi là hiện thực ảo (virtual reality). Nhờ có các mạng máy tính, đặc biệt là Internet, hàng loạt dịch vụ liên lạc qua mạng ra đời, làm thay đổi sâu sắc những phong cách làm việc, giao tiếp, sản xuất, thương mại, giáo dục truyền thống, được gọi bằng những thuật ngữ ngắn gọn: thương mại điện tử, làm việc từ xa, chữa bệnh từ xa, đại học ảo, và thậm chí chính phủ điện tử.. Trước hết, thương mại điện tử (TMĐT) là việc triển khai mua bán qua mạng máy tính. Đó là một phương thức mua bán cực kỳ thuận lợi và ít tốn kém: người mua hàng có thể ngồi trước PC của mình dạo qua các cửa hàng của các công ty trên khắp thế giới có trang Web trên Internet để chọn lựa món hàng mình cần và tìm hiểu chất lượng và giá cả, khi muốn mua họ có thể yêu cầu cửa hàng trình bày mặt hàng từ các góc nhìn khác nhau..Hiện đại hơn, cửa hàng có thể sử dụng công nghệ thực tế ảo để trình diễn các hình ảnh như thật về mặt hàng. Khi thuận mua, khách hàng có thể trả tiền theo tài khoản của mình qua mạng, rồi sau đó chờ cửa hàng gửi hàng đến tận nơi. Với những thuận lợi như trên, TMĐT là một hướng hết sức có triển vọng, do đó các nước tham gia WTO đang chuẩn bị ký kết một hiệp định về TMĐT. Hiện nay TMĐT hoạt động phổ biến trên các mặt hàng đơn giản: các ấn phẩm, phần mềm vi tính ... Người ta ước tính tổng kim ngạch TMĐT trên thế giới vào năm 2004 đạt 6,4 nghìn tỷ USD, chiểm 30% giao dịch thương mại toàn cầu. Đây là một hướng có triển vọng rất lớn, nhưng để phát triển cần chuẩn bị thêm những cơ sở về luật pháp và công nghệ nhằm đảm bảo độ tin cậy và an toàn của liên lạc qua mạng. Làm việc từ xa là một phương hướng rất hiện thực, trước mắt cho những việc làm mà người quản lý có thể giao việc, trao đổi và kiểm soát sản phẩm của người làm thuê qua mạng. Hiện nay rất nhiều công ty phần mềm trên thế giới thực hiện làm việc từ xa, với đội ngũ nhân viên rải khắp thế giới. Với cách làm việc này từ các nước phát triển người ta có thể chọn được đội ngũ làm thuê tài năng ở mọi nơi, nhất là từ các nước đang phát triển, giới chủ có thể thu lợi rất lớn bằng cách chi trả lương cho người cộng tác với mức thấp chấp nhận được ở các nước đang phát triển. Ưu thế về nơi cư trú của các cư dân ở các thành phố lớn tại các nước phát triển sẽ bị vô hiệu hoá một phần. Chữa bệnh từ xa cũng là một phương hướng hết sức có triển vọng, vì các máy móc phương tiện chẩn đoán y tế ngày càng hiện đại và rẻ tiền, trong khi bác sĩ giỏi có kinh nghiệm thì rất hiếm. Bệnh nhân có thể đối thoại với bác sĩ, làm các xét nghiệm theo yêu cầu của bác sĩ và chuyển kết quả cho bác sĩ qua mạng hoặc các phương tiện viễn thông, bác sĩ sẽ chỉ dẫn phương thức điều trị và sau đó theo dõi, điều chỉnh v..v.. Bằng công nghệ thực tế ảo và viễn thông, khi cần thiết, một pha giải phẩu phức tạp có thể có sự tham gia và hướng dẫn từ xa của các nhà phẫu thuật giỏi. Chính phủ điện tử là một thuật ngữ nói lên sự điều hành của chính phủ thông qua mạng máy tính, đảm bảo việc xử lý một khối lượng thông tin lớn và nhanh chóng để ra các quyết định kịp thời. Các cuộc họp có thể triệu tập dễ dàng nhờ các phương tiện hội nghị từ xa qua video và viễn thông. Các trường đại học ảo (virtual universities), học tập ảo (virtual learning) có vai trò ngày càng quan trọng trong giáo dục. Chúng ta sẽ trở lại các hình thức này ở phần nói về ứng dụng CNTTTTM vào việc dạy và học.

4.3. Đặc điểm của sự phát triển và tác động xã hội của công nghệ thông tin-truyền thông mới

CNTTTTM đã phát triển với tốc độ phi thường, và sự phát triển của nó mang nhiều đặc điểm mới lạ so với các lĩnh vực khoa học công nghệ khác, và chính vì vậy nó đã có những tác động hết sức phi thường đối với sự phát triển của xã hội loài người. - Trước hết phải nói là máy tính điện tử biến đổi và hiện đại rất nhanh: công suất và tốc độ tăng, kích thước thu nhỏ; đồng thời càng hiện đại càng dễ sử dụng, và giá thành cũng giảm xuống rất nhanh. Số liệu thống kê cho thấy từ thập niên 1980 đến nay cứ mỗi năm công suất máy tính tăng lên gấp rưỡi hoặc gấp đôi và giá giảm còn một nửa, quy luật đó đã, đang và sẽ còn tiếp diễn. Người ta thường nêu ra 3 định luật mô tả tốc độ phát triển và hiệu quả của CNTTTTM. Định luật Moore phát biểu rằng công suất của máy tính điện tử cứ tăng gấp đôi trong khoảng 18 tháng. Định luật về dải truyền (bandwidth) khẳng định rằng dung năng truyền thông (bandwidth communication capacity) tăng gấp đôi trong vòng cỡ 12 tháng. Định luật Metcalf cho biết giá trị của một mạng máy tính tăng tỉ lệ với bình phương số máy tính được nối với mạng ) (J. M. Wilson, 2001). Chính do đặc điểm và các định luật nêu trên mà việc ứng dụng rộng rải CNTTTTM đã diễn ra hết sức nhanh chóng trên thế giới. Với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của CNTTTTM như trên, có những điều ngày nay còn khó thì ngày mai trở nên dễ dàng. - Tác động của CNTTTTM cũng làm cho cơ cấu nghề nghiệp trong xã hội biến đổi rất nhanh. CNTTTTM làm vô hiệu hoá một số ngành nghề truyền thống, nhưng cũng tạo ra nhiều loại ngành nghề mới, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ. Chẳng hạn, ở Mỹ người ta tính trung bình một nhân viên của tập đoàn Microsoft tạo ra được 6,7 chỗ làm việc mới. Do công việc với CNTTTTM đòi hỏi hàm lượng chất xám trong nhân lực ngày càng cao, tỉ lệ "công nhân áo xanh" (lao động chủ yếu bằng chân tay) so với "công nhân áo trắng" (lao động chủ yếu bằng trí óc) ngày càng giảm và công nhân áo trắng ngày càng chuyển thành "công nhân tri thức". Ở Mỹ, hiện nay trong cả nước công nhân tri thức chiếm hơn 80%. Nhân lực trong các ngành dịch vụ và công nghệ cao phần lớn là công nhân tri thức. - CNTTTTM làm tăng cường các mối quan hệ giao tiếp và trao đổi văn hoá trong các cộng đồng dân tộc và trên toàn cầu. Chính điều đó đã làm cho tính "toàn cầu hoá" về văn hoá diễn ra hết sức nhanh chóng. Mọi người trên thế giới có thể nhanh chóng nhận được những thông tin về những thành tựu văn hoá, nghệ thuật, khoa học, thể thao, có thể làm quen với những nhân vật nổi tiếng từ khắp mọi nơi, có thể thưởng thức, hưởng thụ những trình diễn nghệ thuật, văn hoá, thể thao tinh hoa từ mọi miền, của mọi cộng đồng dân tộc trên toàn thế giới. Do đó các dân tộc có nhiều cơ hội hiểu biết nhau hơn, thông cảm với nhau hơn để cùng chung sống với nhau trong một ngôi làng toàn cầu (global village) nhỏ bé. - CNTTTTM thúc đẩy quá trình dân chủ hoá xã hội. Mọi người dân đều có thể dễ dàng truy cập thông tin, thông tin đến với mọi người, không thể bưng bít thông tin. CNTTTTM cũng giúp Nhà nước, các cơ quan quản lý có khả năng nhanh chóng tiếp nhận và xử lý thông tin để đưa ra các quyết định hợp lý. Tất cả những yếu tố đó tạo điều kiện để tăng cường tính dân chủ của hệ thống chính trị xã hội. CNTTTTM đem lại bao nhiêu đổi thay theo hướng tốt đẹp cho nhân loại, đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội và nhiều thách thức gay gắt. Đó là việc đảm bảo tính riêng tư của các dữ liệu của cá nhân khi giao lưu trên mạng, và mở rộng hơn là bảo vệ những bí mật của tổ chức, của quốc gia. Việc đảm bảo quyền tác giả của kiến thức và những sáng tạo khi được đưa ra sử dụng cũng là vấn đề nổi bật. Có một nguy cơ lớn là có thể xãy ra sự độc quyền về công nghệ và tiếp theo là sự độc quyền về văn hoá, nếu chỉ một bộ phận của nhân loại sản xuất các tài liệu còn bộ phận còn lại chỉ sử dụng chúng. Bên cạnh việc tăng tính toàn cầu hoá của giao tiếp thì cũng xuất hiện khả năng co rút của con người vào cõi tách biệt của riêng mình vì các nhu cầu giao tiếp bằng xương bằng thịt giảm bớt. Một vấn đề khác được đặt ra là làm thế nào ngăn chặn những thông tin độc hại, những sản phẩm văn hoá đồi truỵ, tuyên truyền bạo lực, phản nhân văn. Ở đây nảy sinh quyền kiểm soát thông tin của các tổ chức và quốc gia. Người ta có thể tạo nên những "bức tường lửa" (fire walls) để ngăn chặn thông tin, nhưng nếu lạm dụng chúng để hạn chế tối đa việc truy cập thông tin thì sẽ tạo ra xu hướng phản dân chủ. Có lẽ biện pháp tích cực nhất là giáo dục lý tưởng phục vụ tiến bộ xã hội, chủ nghĩa nhân văn và những tình cảm thẩm mỹ lành mạnh cho nhân dân, đó là những liều thuốc đề kháng tự giác có hiệu quả cao nhất. Tất nhiên đối với các lứa tuổi vị thành niên cần có những biện pháp kỹ thuật và giáo dục để ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực. Thành tựu của CNTTTTM cũng làm tăng nguy cơ mở rộng khoảng cách giữa các nước phát triển và các nước nghèo vì nạn "đói thông tin", tăng nguy cơ mất đi tính đa ngôn ngữ, đa văn hoá, không giữ được những giá trị văn hoá và bản sắc dân tộc.

4.4. Tác động của công nghệ thông tin và truyền thông mới đối với giáo dục

- Phân loại các mô hình giáo dục theo cách tiếp cận thông tin: Theo cách tiếp cận thông tin, tại “Hội nghị Paris về GDĐH trong thế kỷ 21” do UNESCO tổ chức 10/1998 người ta có có tổng kết 3 mô hình giáo dục nêu ở Bảng 1. Trong các mô hình đã nêu, mô hình "tri thức" là mô hình giáo dục hiện đại nhất, hình thành khi xuất hiện thành tựu mới quan trọng nhất của CNTTTTM - mạng Internet. Bảng 1: Phân loại các mô hình giáo dục dựa trên các công nghệ cơ bản
theo cách tiếp cận thông tin

 

Mô hình Trung tâm Vai trò người học Công nghệ cơ bản
Truyền thống Người dạy Thụ động Bảng/TV/Radio
Thông tin Người học Chủ động PC
Tri thức Nhóm Thích nghi PC + mạng

 

Cùng với mô hình mới nhất này những yếu tố thay đổi sâu sắc sau đây trong giáo dục đang xuất hiện (5): - Yếu tố thời gian sẽ không còn ràng buộc chặt chẽ: xuất hiện khả năng giáo dục không đồng bộ; - Yếu tố không gian sẽ không còn quá câu thúc: xuất hiện khả năng học viên tham gia học tập mà không cần đi đến trường đại học; - Giá thành toàn bộ của giáo dục giảm nhiều, vì xuất hiện các lớp ảo có quy mô lớn mà không cần trường lớp kiểu thông thường; - Sự chuyển giao tri thức không còn chiếm vị trí hàng đầu của giáo dục nữa: học viên phải học cách truy tìm thông tin họ cần, đánh giá và xử lý thông tin để biến thành tri thức qua giao tiếp; - Mối quan hệ người dạy- người học theo chiều dọc sẽ được thay thế bởi quan hệ theo chiều ngang, người dạy trở thành người thúc đẩy, chuyên gia hướng dẫn hay đồng nghiệp, người học phải thật sự chủ động và thích nghi. Nhóm trở nên rất quan trọng vì là môi trường để đối thoại, tư vấn, hợp tác. - Thị trường giáo dục sẽ được toàn cầu hoá vì không còn bị ràng buộc về không thời gian. Ngôn ngữ trở thành một yếu tố thúc ép mạnh. - Việc đánh giá không còn dựa nhiều vào kết quả thi cử như trước nay, mà dựa nhiều hơn vào quá trình tiêu hoá tri thức để trở thành lành nghề, biểu hiện ở năng lực tiến hành nghiên cứu, thích nghi, giao tiếp, hợp tác.. - Sự khác biệt giữa các loại hình và cấp bậc giáo dục (tiểu học, trung học, đại học, dạy nghề..) sẽ ít quan trọng hơn trước đây, và giáo dục thường xuyên sẽ thở thành quan trọng nhất. Nói tóm lại, ở bước ngặc đi vào nền văn minh trí tuệ hiện nay, CNTTTTM đang tạo ra những thay đổi mang mầm mống của một cuộc cách mạng giáo dục thực sự, ở đó những cơ cấu cứng nhắc theo truyền thống về mối quan hệ "không gian-thời gian-trật tự thang bậc" sẽ bị phá vỡ.

5. SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC 5.1. Công nghệ với khoa học về nhận thức

a. Công nghệ và sư phạm: Công nghệ mới đã làm biến đổi xã hội và giáo dục một cách mạnh mẽ và sâu sắc. Tuy nhiên chúng ta hãy xét trong một phạm vi hẹp hơn: đối với phương pháp dạy và học công nghệ mới tác động như thế nào? Công nghệ mới có sức mạnh rất lớn, nhưng khi xét về việc dạy và học, trước hết phải nói đến khoa học về nhận thức, lý thuyết về việc học, vừ từ đó, về việc dạy. Dựa vào khoa học về nhận thức chúng ta mới xác định được công nghệ mới sẽ dẫn chúng ta đi đến đâu trong lĩnh vực này. Có một nghịch lý là những biến đổi về công nghệ, đặc biệt về CNTTTTM xãy ra rất mạnh mẽ, và sự áp dụng công nghệ đó vào cuộc sống nói chung cũng được triển khai khá nhanh chóng, trong khi đó thì khoa học về nhận thức của con người phát triển rất chậm, và việc áp dụng thành tựu của khoa học này vào cuộc sống, vào quá trình giáo dục, vào việc tổ chức dạy và học diễn ra còn chậm chạp hơn nhiều. Từ những nghiên cứu về quá trình nhận thức của con người, tức là về sự học của con người xãy ra như thế nào, người ta đã rút ra nhiều kết luận đánh giá mức độ quan trọng của sự gắn kết, sự tương tác, sự hợp tác trong quá trình học, và từ đó đã đề xuất các chiến lược dạy và học xác định. Cũng từ những nghiên cứu quá trình học một cách cụ thể hơn cho thấy, chẳng hạn, người học sẽ học được nhiều hơn thông qua việc làm so với thuần túy qua nghe hoặc nhìn; người học sẽ học tốt hơn khi gắn kết trong một nhóm so với chỉ riêng mình; người học thường học lẫn nhau được nhiều hơn so với học từ thầy; người học sẽ học tốt hơn khi được tin tưởng và kỳ vọng nhiều hơn; mỗi người học có phong cách, sự thích thú, kinh nghiệm học khác nhau. Như vậy, muốn đưa một giải pháp công nghệ nào đó phục vụ việc dạy và học trước hết cần phải lưu ý các đặc điểm của việc học, từ đó xét xem giải pháp công nghệ đó có thúc đẩy quá trình học xãy ra một cách thuận lợi hơn, có hiệu quả hơn hay không. Do đó công nghệ không thể điều khiển sư phạm, mà công nghệ hỗ trợ cho sư phạm, giúp thực hiện tốt các giải pháp sư phạm vốn dựa trên khoa học về nhận thức, giúp làm cho sự học của con người diễn ra thuận lợi hơn, tạo kết quả vững chắc hơn. Tóm lại, phương châm "công nghệ vì người học" phải được nêu lên hàng đầu. Tuy nhiên, một khía cạnh khác cần phải lưu ý là muốn khai thác được tốt công nghệ để phục vụ cho việc học, muốn biết sử dụng công nghệ một cách sáng tạo thì phải hiểu công nghệ, hiểu tiềm năng của nó cũng như những hạn chế của nó. Với sự phát triển nhanh chóng của CNTTTTM điều này không dễ đạt được nếu không có ý thức tìm hiểu và cập nhật.

b. Công nghệ và nhà giáo: Một khía cạnh khác của việc ứng dụng công nghệ mới là một câu hỏi thường được nêu ra: quan hệ giữa công nghệ mới và người dạy. Có một giảng viên đại học hỏi một giáo sư: "Nếu ông đưa bài giảng của tôi lên trang web thì ông cần gì đến tôi nữa". Vị giáo sư trả lời: "Nếu anh có thể bị thay thế bởi một trang web, thì anh đáng được thay thế bởi một trang web" (G. Petty, 1993). Vấn đề là ở chỗ: khi đặt câu hỏi đó người giảng viên hoàn toàn mất tự tin và và hiểu sai khái niệm về dạy và học, về bản chất của sự tương tác giáo dục. Nếu giảng viên chỉ là người cung cấp thông tin thì trang web chẳng những hoàn toàn thay thế được anh ta, mà còn đóng vai trò đó tốt hơn. Nhưng trang web không thể làm được những việc mà một giảng viên tốt có thể làm: đối thoại với học viên, giúp học viên nhìn thấy những gì nằm ở tầm sâu hơn của tri thức, khuyến khích thúc đẩy học viên, tạo động cơ và truyền niềm đam mê cho học viên, làm mẫu cho học viên trong việc tìm kiếm tri thức. Những trải nghiệm qua học tập và nghiên cứu của mình giúp giảng viên làm được những điều đó. Trong lịch sử giáo dục mỗi lần xuất hiện một loại công nghệ mới thì vấn đề về vị trí của người dạy học lại được đặt ra. Nếu công nghệ có thể thay thế được người dạy thì họ đã được thay thế từ lâu, trước hết bởi sách giáo khoa, sau đó bởi băng ghi âm, rồi đến băng ghi hình. Nhưng trước đây và ngay hiện nay vị trí của người dạy đã không thể thay thế được. Ở phần cuối chương chúng ta sẽ quay lại vấn đề này.

c. Các nguyên tắc để lựa chọn giải pháp công nghệ: Khi chọn các giải pháp công nghệ để áp dụng vào việc dạy và học trong một tình huống cụ thể, trước hết phải xuất phát từ nhiệm vụ giảng dạy, vào những nguồn lực sẵn có của cơ sở đào tạo, vào chuyên môn và sở trường của giảng viên, năng lực của học học viên. Tiếp đến, cần xem xét tác động của các giải pháp công nghệ đối với việc dạy và học, cụ thể là chúng có đáp ứng được các nguyên tắc sư phạm cơ bản hay không. A. Chickering (G. Petty, 1993) đã đề nghị 7 nguyên tắc cơ bản là:

1) khuyến khích sự tiếp xúc giữa học viên và giảng viên;

2) phát triển quan hệ tương hỗ và sự cộng tác giữa học viên với nhau;

3) sử dụng các kỹ thuật học tập tích cực;

4) cung cấp các phản hồi một cách nhanh chóng;

5) đảm bào tốt về thời gian đối với các công việc;

6) truyền đạt được những kỳ vọng cao;

7) tôn trọng các tài năng và các phong cách học tập khác nhau.

5.2. Về việc sử dụng các công nghệ cổ điển

Chúng tôi không muốn liệt ra một danh mục đầy đủ các công nghệ cần thiết phục vụ cho việc dạy và học, trong mục này chỉ xin trình bày một số ý tưởng đối với một vài loại công nghệ cổ điển, và ở mục sau sẽ trình bày kỹ hơn về các công nghệ hiện đại

a. Đng coi thường bảng - phấn: Khi nói đến việc sử dụng công nghệ mới đừng coi thường loại công nghệ rất cũ và rất phổ biến là bảng đen - phấn, hoặc bảng trắng - bút dạ. Đó là công nghệ cũ nhưng rất tự nhiên, rất phù hợp với tốc độ giảng dạy bình thường và sự thay đổi tốc độ của giảng viên. Cách viết, cách trình bày trên bảng viết thể hiện nghệ thuật và sự lão luyện về sư phạm của người thầy, và có thể gây ấn tượng rất mạnh đối với học trò. Tôi vẫn nhớ như in thày dạy môn sử của mình thuở trung học đã vẽ một bản đồ Việt Nam trên bảng đen bằng phấn trắng để giảng về các cuộc khởi nghĩa chống Pháp, bản đồ rất đẹp, không một nét thừa, không một lần phải xóa sửa. Bảng phấn cũng là công cụ tốt để giảng môn toán, và tôi đã được học môn "hàm suy rộng" của Giáo sư Hoàng Tụy tại Đại học Tổng hợp Hà Nội cách đây gần 40 năm: suốt buổi giảng ông không hề xóa bảng và viết lại, một công thức đã viết ở góc nào thì vẫn nằm đó để sẽ tiếp tục được sử dụng đến ở mục sau. Khi đưa ra vài ví dụ ở đây tôi muốn gửi đến bạn đọc một lời nhắn nhủ: tuy tuyên truyền cho công nghệ mới nhưng tôi không muốn tạo ở bạn đọc tâm lý sùng bái công nghệ mới. Ở người thầy nămg lực sư phạm là quan trọng nhất, công nghệ phải phục vụ cho việc thể hiện chứ không xóa mờ năng lực này.

b. Về việc sử dụng phim, video, TV: Phim, video là công cụ rất quan trọng để mô tả các diễn biến của một quá trình, tạo hứng thú, dễ cám dỗ và thuyết phục, giúp người học nhớ rất tốt các sự kiện, sử liệu v..v..Tuy nhiên lưu ý rằng mặt traí của công cụ này là chúng có thể tạo tư duy thụ động, dẫn dắt nhiều hơn là tư duy phê phán. Cho nên khi dùng biện pháp công nghệ này cần phối hợp tổ chức tranh luận trong lớp học. Hiện nay TV đã thâm nhập mọi nhà, và là công cụ quan trọng để phổ biến thông tin. TV là phương tiện để giảng dạy cho hàng nghín, hàng triệu người. Nhưng mặt trái của TV là phần lớn phát triển những tư duy bậc thấp. Cúng ta sẽ trở lại vấn đề này sau.

c. Về công nghệ sử dụng máy chiếu hắt (overhead) Đối với các công nghệ cổ điển, chúng tôi đặc biệt xin nhấn mạnh một loại công nghệ hết sức quan trọng và thông dụng nhưng nhiều trường đại học nước ta chưa có ý thức khai thác triệt để: đó là công nghệ dạy và học nhờ overhead. Có thể nói công nghệ overhead là một trong những loại công nghệ có hiệu quả nhất phục vụ việc dạy và học, vì có những ưu điểm sau: - Sử dụng được tốt cho cả diễn giảng và thảo luận: dùng các bộ giấy trong chuẩn bị trước để diễn giảng hoặc dùng giấy trong và bút dạ mầu để viết ý kiến thảo luận trình bày tại chỗ. - Có thể sử dụng linh hoạt bằng những thủ thuật đơn giản: che lấp và cho xuất hiện từng phần, lồng ghép hình bằng nhiều tờ giấy trong vẽ các thành phần… - Tương đối rẻ tiền, dễ phổ cập. Nên lưu ý rằng khi nói đến công nghệ overhead là nói đến cả một quy trình công nghệ dạy và học sử dụng overhead, chứ không chỉ đơn giản là việc mua một chiếc máy và dùng máy một cách tuỳ tiện. Chúng tôi xin nêu dưới đây một vài điều sơ đẳng về quy trình sử dụng overhead: - Để chuẩn bị giấy trong cần tóm tắt phần muốn trình bày thật gọn, làm nổi bật bằng những từ khoá, không lạm dụng giấy trong để chiếu bài viết thông thường lên màn hình. Cần chuẩn bị giấy trong sao cho cử toạ dễ nhìn rõ đồng thời đảm bảo tính thẩm mỹ (không dùng kiểu chữ rối rắm và màu sắc lòe loẹt, chẳng hạn nên nhớ nguyên tắc 3 con 6: 6 dòng trên một tờ, 6 từ trên một dòng, mỗi chữ nhỏ nhất 6mm trên giấy A4). - Khi trình bày cần nhìn vào cử toạ, quan sát cử toạ, nếu cần nhớ nội dung trình bày thì nhìn vào tờ giấy trong, không nhìn lên màn hình. Khi cần lưu ý một từ hoặc câu nào đó cần dùng đầu bút chỉ trên giấy trong hoặc đèn phóng tia sáng laser chỉ trên màn hình, nhưng không sử dụng động tác này liên tục gây nhàm chán. Khi cần thu hút sự chú ý của cử toạ vào diễn giả thì tắt máy… Như vậy, việc dùng overhead gắn liền với một quy trình đổi mới phương pháp và phong cách dạy học của giảng viên chứ không chỉ đơn giản là sử dụng thiết bị. Với những ưu điểm và tính vạn năng của overhead, đơn vị bạn có thể chọn công nghệ dạy học nhờ overhead để phát động một phong trào đổi mới phương pháp dạy và học trong đơn vị mình.

5.3. Sử dụng các công nghệ hiện đại

Khi phân loại công nghệ, chúng ta đã tạm gọi công nghệ hiện đại là công nghệ có bao hàm công nghệ thông tin.

a. Khắc phục tâm lý ngại sử dụng máy tính: Trước khi trình bày về các công nghệ hiện đại tôi muốn nhắn nhủ với một số giảng viên mà cho đến nay chưa sử dụng hoặc chưa sử dụng thành thạo máy tính. Các bạn nên biết rằng đây là một trong các kỹ năng thiết yếu nhất của nghề nghiệp chúng ta trong thời đại hiện nay. Ở Mỹ, trước đây người ta thường nói đến 3 kỹ năng cần đạt được để thanh toán nạn "mù chữ" là 3R (Reading, wRiting và aRithmetic) tức đọc, viết và tính toán. Ngày nay người ta thấy cần phải đạt thêm kỹ năng thứ tư nữa về sử dụng máy tính để xóa nạn "mù" tin học. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, ngay ở nước ta, đặc biệt trong cộng đồng giảng viên cao đẳng đại học, mù "tin học" cũng phải được xem là một "nạn" phải thanh toán. Ở thời điểm này, cuối năm 2006, có thể nói là đa số người trong đội ngũ giảng viên đại học cao đẳng ở nước ta có thể trang bị cho bản thân hoặc gia đình một một máy tính cá nhân (PC), giá vài ba triệu đồng. Còn về việc dùng nó, bạn không nên ngại, càng đừng nên "sợ" sử dụng máy tính. Có thể nói sử dụng máy tính là rất dễ, vì các PC hiện nay được thiết kế trên nguyên tắc "thân thiện với người dùng" (user-friendly), thậm chí một người già cũng có thể học sử dụng được nó không quá khó khăn. Cái chính là biết làm gì khi động vào máy. Cần tuân theo một số quy tắc. Chẳng hạn, khi muốn thử nghiệm một thao tác gì mới, bạn cần "ghi" (save) tất cả những gì mà bạn đã viết ra để không sợ bị xóa mất. Khi dùng một thao tác mới nếu tạo ra một sản phẩm không ra gì thì không nên save lại. Khi muốn sử dụng một phần mềm mới thì con đường ngắn nhất là hỏi bạn bè vài thao tác đơn giản nhất, sau đó vừa làm vừa học thêm dần. Nên kết bạn với một người thạo tin học để khi gặp khó khăn có thể hỏi tư vấn qua điện thoại. Máy tính có thể được sử dụng như một công cụ (soạn thảo, lưu trữ dữ liệu, in ấn…); có thể sử dụng như một thư viện lớn có thể lưu trữ và tìm kiếm tư liệu dễ dàng (cùng với các đĩa CD, DVD, đặc biệt khi được nối với Internet); cũng có thể sử dụng như một người thầy hay một người bạn khi học tập (khi theo học các chương trình cụ thể trên CD,DVD hay trực tuyến). Chúng ta sẽ thấy các chức năng đó của máy tính qua một số thí dụ cụ thể.

b. Khai thác một số phần mềm cơ bản - Thông thường soạn thảo văn bản là kỹ năng đầu tiên mà cả giảng viên và học viên phải đạt được, phần mềm phổ biến nhất phục vụ hình thành kỹ năng này là Microsoft Word. Đây là một phần mềm quan trọng cần sử dụng tốt, vì nhiều phần mềm phục vụ cho những mục đích khác sau này đều được thiết kế tương thích với Microsoft Word, sử dụng nhiều tính năng và động tác của nó. Từ việc biết sử dụng một số tính năng cơ bản đến việc sử dụng thành thạo là cả một khoảng cách, tuy nhiên việc thành thạo sẽ đạt được theo thời gian. Cách tốt nhất để hoàn thiện kỹ năng sử dụng phần mềm là tìm hiểu qua phần "Help" khi xuất hiện nhu cầu, nếu không tìm được thì hỏi bạn bè. Để phục vụ việc chấm bài, sửa bài cho học viên hoặc trao đổi các bài viết giữa các đồng nghiệp có thể sử dụng thao tác Track Changes trong mục Tools ở Microsoft Word. Thao tác này cho phép góp ý nhằm xóa bỏ, thêm bớt nội dung văn bản, viết các lời phê ngoài lề văn bản, nhưng dành phần chấp nhận những góp ý đó cho tác giả văn bản. - Một công cụ quan trọng khác tạo thuận lợi cho công việc là các "bảng công việc" (spreadsheets). Có thể tạo bảng công việc nhờ phần mềm Microsoft Excel. Bảng công việc sử dụng rất thuận lợi trong việc xây dựng các bảng thống kê, thực hiện các thao tác tính toán thống kê ngay trên bảng. Phần mềm Excel còn cho phép vẽ các loại biểu đồ thống kê theo các dạng hình khác nhau (theo cột, dạng bánh tròn, v..v.) để sử dụng trong các báo cáo khảo sát.

c. Đa phương tiện với việc dạy và học Khi nói đến CNTTTTM phục vụ dạy và học, trước hết cần nói đến công nghệ đa phương tiện (multimedia). - Thế nào là multimedia? Người ta có thể giải thích từ multimedia theo nghĩa đen của thuật ngữ đó bằng cách dẫn ra nhiều phương tiện. Tuy nhiên, với tư cách là một thuật ngữ gắn với công nghệ thông tin, có thể hiểu multimedia là phương pháp giới thiệu thông tin bằng máy tính, sử dụng nhiều phương tiện truyền thông tin như văn bản, đồ hoạ và âm thanh, cùng với sự gây ấn tượng bằng tương tác và tìm kiếm bằng siêu liên kết (hyperlink). Nói gọn hơn, có thể biểu diễn đa phương tiện bằng công thức: Multimedia = (text, audio-visual media) digital hóa + hyperlink Thật vậy, các phương tiện văn bản, đồ họa, âm thanh phải được số hóa thì mới nhúng được vào công nghệ thông tin, sử dụng toàn bộ thành tựu của công nghệ thông tin tác động lên chúng. Hơn nữa, kỹ thuật siêu liên kết của công nghệ thông tin giúp kết nối mau lẹ nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau gồm mọi loại văn bản, đồ hoạ, âm thanh trở thành một nguồn tư liệu khổng lồ đa năng và phong phú, và tăng tốc độ tương tác giữa người sử dụng và nguồn dữ liệu. Khi ngồi trước một PC nối mạng, bạn được ngồi trước một kho dữ liệu vô tận, bao gồm các cơ sở dữ liệu ghi trên máy tính và các đĩa CD, DVD kèm theo, và vô vàn các trang Web liên quan trên toàn thế giới, mà mọi cơ sở dữ liệu đó được kết nối rất nhanh chóng khi tìm kiếm bằng công cụ siêu liên kết. Rõ ràng nếu hiểu "đa phương tiện" theo cách như trên chúng ta mới thấy hết quy mô và sức mạnh diệu kỳ của nó. - Với sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ thông tin và vi điện tử, các công cụ lưu giữ thông tin ngày càng có sức chứa lớn, chẳng hạn một CD-ROM thông thường có dung lượng 700 MB, có thể chứa được cỡ 250.000 trang văn bản, cho phép ghi các hình ảnh động có màu sắc kèm âm thanh, các đĩa DVD còn có sức chứa lớn hơn; các thanh từ, thẻ từ, ổ đĩa cứng tí hon cơ động, ổ cắm cơ động USB (magnetic stick, card, removable drive, …) có thể chứa hàng trăm MB, cho phép ghi một khối lượng lớn dữ liệu và hình ảnh chất lượng cao. Kèm với công cụ lưu giữ thông tin, công cụ thu nhận và sao chép thông tin tiện lợi với giá hạ rất nhanh cũng tạo điều kiện để ghi sao và chế tạo các đĩa CD, DVD đa phương tiện. Đó là các máy ảnh digital, các ổ đĩa cho phép ghi CD-RW với giá không quá cao, và các đĩa CD-R trắng rất rẻ (giá khoảng 2000đ ở thời điểm hiện nay).

- Các đĩa CD, DVD chứa multimedia là các công cụ rất quan trọng hỗ trợ giảng dạy và học tập. Nhờ đó người ta có thể soạn thảo các từ điển bách khoa chứa rất nhiều thông tin văn bản, hình ảnh tĩnh, âm thanh, hình ảnh động có âm thanh…thuận tiện cho việc tra cứu. Điều đó tạo điều kiện để người ta có thể giới thiệu các bảo tàng nghệ thuật tạo hình, bảo tàng âm nhạc trên CD và DVD. Một ví dụ về một từ điển bách khoa thông dụng trên CD là từ điển ENCARTA của hãng Microsoft chứa trên một đĩa DVD hoặc 6 đĩa CD (version 2007), một kho dữ liệu lớn phục vụ học tập và giảng dạy. ENCARTA có cơ sở dữ liệu đồ sộ trên đĩa CD tại chỗ, đồng thời có các danh mục URL (địa chỉ Internet - Uniform Resource Locator) rất phong phú liên quan



Chân dung Albert Einstein được in sao từ ENCARTAđến vấn đề cần tìm kiếm, các địa chỉ này được cập nhật thường xuyên qua Internet. Do tính phong phú và cơ động của các CD, DVD chứa multimedia, đây có thể là phương tiện thuộc công nghệ mới hỗ trợ dạy và học linh động nhất, có hiệu quả nhất trong điều kiện nước ta hiện nay, khi phương tiện Internet chưa phổ cập. Các trường đại học cao đẳng nên tạo cho giảng viên và học viên thói quen sử dụng các công cụ này. Đó là chưa kể ENCARTA còn kèm các chương trình du lịch ảo và nhiều trò chơi lý thú.

- Một từ điển nổi tiếng khác được lưu trên Internet là WIKIPEDIA, ra đời vào đầu thế kỷ 21. Đây là một từ điển đặc biệt được cộng tác soạn thảo bởi nhiều bạn đọc sử dụng từ điển. Triết lý cơ bản của Wikipedia là một cộng đồng những người tình nguyện có thể đóng góp kiến thức và kiểm tra chéo lẫn nhau để xây dựng một từ điển mở. Mỗi giờ có hàng nghìn thay đổi bổ sung được ghi lại và được lưu trong lịch sử của mỗi bài viết, trong đó có ghi những thay đổi mới nhất. Những đề nghị bổ sung thay đổi không thỏa đáng bị cơ chế hiệu đính loại bỏ nhanh chóng. Như vậy Wikipedia là một từ điển sống lưu giữ cập nhật tri thức của nhân loại. Cho đến thời điểm này (12/2006) trên Wikipedia có hơn 1,5 triệu bài viết tiếng Anh, hơn 500 nghìn bài viết tiếng Đức, hơn 400 nghìn bài viết tiếng Pháp, hơn 300 nghìn bài viết tiếng Ba Lan, hơn 300 nghìn bài viết tiếng Nhật… (http://www.wikipedia.org/).

 

Logo của từ điển WIKIPEDIA
c. Internet với việc dạy và học Internet là một hệ thống gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau trên toàn thế giới, tạo thuận lợi cho các dịch vụ truyền thông dữ liệu như đăng nhập từ xa, truyền các tệp tin, thư tín điện tử và các nhóm thông tin. Người ta đánh dâú thời điểm xuất hiện Internet bởi sự kiện Phó Tổng Mỹ Al Gore thông báo việc khai trương một lĩnh vực hoạt động mới, các xa lộ thông tin, vào năm 1993. - Kỹ năng và công cụ tìm thông tin: Để sử dụng Internet, một thao tác quan trọng nhất là tìm tin. Để phục vụ hoạt động tìm tin, một số Website cung cấp các máy tìm tin (search engine). Hiện nay các máy tìm tin thông dụng và miễn phí là Google, Microsoft Network search (MSN) và Yahoo!, trong đó Google (http://www.google.com/) đang được tín nhiệm nhất vì cho phép tìm nhanh chóng và thuận lợi. Năm 2006 Google được xếp hạng là một máy tìm tin tổng hợp nhất thế giới, cung cấp tìm Web trên hơn 100 nước, và là Web site được vào nhiều nhất để tìm tin. Google cũng cung cấp các dịch vụ khác, đặc biệt là cung cấp miễn phí các hộp thư điện tử dung lượng bộ nhớ lớn (hiệm nay dung lượng cho mỗi hộp thư là 3 Gigabyte). Thao tác tìm tin thông thường là tra theo chủ đề dựa vào các từ khóa hoặc tập hợp vài ba từ khóa. Chỉ một phần giây sau thao tác nhấn chuột máy tìm tin cung cấp một danh mục các bài viết liên quan, người có kỹ năng tìm tin chỉ sau vài lần nhấn chuột là có thể tìm được tài liệu liên quan đến chủ đề mong muốn. Người ta có thể phân chia phương pháp tìm tin thành hai kiểu: kiểu tìm đóng và kiểu tìm mở. Kiểu tìm đóng một là tìm một tài liệu đã biết, ví như tìm một mảnh ghép hình còn thiếu, kiểu này tốt nhất là tìm ở các danh mục tham khảo của các sách chuyên luận. Tuy nhiên, khi thực hiện kiểu tìm mở về một lĩnh vực nào đó trên Internet bạn sẽ gặp những phát hiện bất ngờ làm bạn ngạc nhiên, cung cấp những mối liên hệ sáng tạo liên quan với lĩnh vực nghiên cứu của bạn. Có thể bạn sẽ luân phiên thăm dògạn lọc bằng cách luôn luôn tự hỏi mình: "Cái này cần gì cho ta?" "Cái gì đúng là cái ta cần?". Kỹ năng tìm tin và phân biệt để lựa chọn tin là kỹ năng quan trọng sống còn trong kỷ nguyên thông tin, rất cần trang bị cho học viên. Để luyện kỹ năng đó nên giao cho học viên các bài tập mà cần phải tìm tin trên mạng Internet. Khi tìm tin theo chủ đề, theo từ khóa có thể gặp các trang Web có chất lượng và cả các trang Web tồi. Đối với một số lĩnh vực và chủ đề xác định cần cung cấp cho học viên danh mục các trang Web chất lượng. Giảng viên và học viên trong các nhóm học tập nên thông tin trao đổi các địa chỉ URL với nhau khi tìm được các bài viết và các trang Web chất lượng. Từ các trang Web chất lượng đã biết, qua hyper link ta có thể tìm ra các trang Web liên quan khác. Có trang Web còn đưa ra kết quả đánh giá chất lượng các trang Web khác bằng số ngôi sao. Tôi xin nêu một ví dụ mà bản thân tôi đã trải nghiệm khi dạy môn Điện học cho sinh viên Đại học Thăng Long. Để sinh viên tự tìm hiểu một số thiết bị và dụng cụ cụ thể được thiết kế theo các nguyên tắc vật lý (chẳng hạn: máy photcopy, màn hình LCD, lò vi sóng, điện thoại di động v..v..), tôi yêu cầu mỗi em tự tìm tư liệu về một dụng cụ, mô tả, chuẩn bị thuyết trình trong xêmina của lớp. Các em tự tìm theo chủ đề, và phát hiện trang Web rất có chất lượng là http://www.howstuffworks.com/. Từ trang Web này các em đã tìm được tư liệu về các thiết bị có mô tả các nguyên tắc vật lý bằng các hình động và cả các sản phẩm công nghiệp được quảng cáo để bán hàng. Xêmina diễn ra rất hào hứng. Khi nói đến việc sử dụng các nguồn dữ liệu và công nghệ tìm kiếm nói trên không thể không nhắc đến vai trò của ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, trong xu thế hội nhập hiện nay. Không biết tiếng Anh thì nguồn thông tin chúng ta có thể tiếp cận giảm xuống hàng chục lần. - E-mail và các trang Web cá nhân của giảng viên: Hiện nay e-mail đã trở thành một công cụ phổ biến của đội ngũ giáo chức và cả học viên nhiều trường đại học. Ở một vài trường đại học một số giảng viên còn có trang Web riêng của mình. Trang Web riêng của giảng vên và e-mail của giảng viên và học viên giúp kết nối tốt giảng viên và học viên, qua đó giảng viên có thể công bố giáo trình, bài tập, nhắc nhở học viên và giao tiếp với học viên. Tuy nhiên, để giảm mức quá tải đối với giảng viên, nên quy định giữa giảng viên với học viên về quy tắc trao đổi tin tức, phụ đạo, giải đáp. Chẳng hạn, hạn chế độ dài trang thư thông thường của học viên gửi cho giảng viên…Một tính năng đặc biệt của hộp thư e-mail mà chúng ta có thể khai thác, đặc biệt các hộp thư có dung lượng lớn (như của Google), là dùng hộp thư làm nơi lưu trữ tư liệu của cá nhân. Kiểu lưu trữ này vừa rất tiện lợi để sử dụng khi phải đi xa, vừa ít bị thất lạc hoặc sai hỏng như khi lưu trong PC của gia đình. - e-Learning và các lớp học ảo: Với việc sử dụng Internet trong việc dạy và học, người ta nói nhiều đến e-Learning (học tập điện tử - e-L). Vậy e-L là gì? Có rất nhiều cách định nghĩa e-L. Chẳng hạn, trong công trình "Designing Instruction for Technology Enhanced Learning (P. L. Rogers, 2001) có nêu 3 tiêu chuẩn cơ bản để xác định e-L:

1) e-L là học tập nhờ mạng máy tính, nhờ đó có thể cập nhật, lưu trữ/truy cập, phân phối, chia sẻ kiến thức hoặc thông tin một cách tức thời;

2) e-L được phân phát tới người học trực tiếp qua một máy vi tính sử dụng công nghệ Internet tiêu chuẩn. Điểm quan trọng nhất trong tiêu chuẩn này là sử dụng chẳng hạn giao thức TCP/IP (Transfer Control Protocol/ Interrnet Protocol) và trình duyệt Web, vì chúng tạo nền tảng cho một sự phân phát vạn năng;

3) e-L thực hiện theo một quan điểm rộng nhất về việc học – các giải pháp học tập không còn bị ràng buộc bởi các mô hình đào tạo truyền thống. e-L là một dạng của học tập từ xa, tuy khái niệm học tập từ xa rộng hơn. Rõ ràng là e-L phản ảnh tổng hợp tác dụng to lớn của CNTTTTM vào việc đổi mới việc dạy và học, thể hiện rõ rệt nhất cuộc cách mạng trong giáo dục do công nghệ mới đem lại. Nhiều trường đại học ảo, lớp học ảo đã xuất hiện trên thế giới và bắt đầu xuất hiện ở nước ta, trong đó việc học diễn ra chủ yếu bằng giao tiếp qua mạng Internet. Trường đại học ảo lớn nhất Hoa Kỳ hiện nay là University of Phoenix, một trường vì lợi nhuận, hàng năm giúp giảng dạy từ xa cho hơn 180.000 học viên, phần lớn là những người vừa học vừa làm (http://online.phoenix.edu/) . Hiện tồn tại nhiều ý kiến khác nhau về chất lượng văn bằng do trường này cung cấp. Ở Mỹ hiện nay trong số gần 15 triệu sinh viên có hơn một triệu sinh viên học tập qua các chương trình từ xa. Học tập từ xa qua Internet có nhiều ưu điểm: số lượng học viên tham gia học không giới hạn, học viên có thể học bất cứ lúc nào trong 24 giờ mà không phải đến trường, họ có thể học theo tốc độ thích hợp với họ. Tâm lý ngại giao tiếp ở các lớp thông thường được khắc phục, vì chỉ giao tiếp với giáo viên khi ngồi trước máy tính mà máy tính thì "không biêt chê bai người tiếp xúc", những trao đổi giữa giảng viên và học viên là hoàn toàn riêng tư. Với Internet kho tư liệu mà sinh viên có thể sử dụng là rất lớn. Tuy nhiên, học tập từ xa quan Internet bị nhiều mặt hạn chế: giảng viên không biết "con người thật" của học viên: mặt mũi, lời nói, cử chỉ…; nhiều giao tiếp "ngôn ngoại" đôi khi rất có hiệu quả nhưng không thực hiện được; mất đi những cơ hội tiếp xúc không chính thức…Học tập từ xa rõ ràng không thể hoàn toàn thay thế học tập mặt-giáp-mặt. Người ta phải khắc phục bớt những hạn chế nói trên bằng cách tổ chức một số lần tiếp xúc giữa giảng viên với học viên và giữa học viên với nhau trong mỗi năm học hoặc trong khóa học. Vì các ưu điểm của học tập từ xa qua Internet nên hiện nay nhiều trường đại học truyền thống sử dụng hình thức học tập từ xa qua Internet để bổ sung cho hình thức học tập truyền thống. Liều lượng bổ sung này có xu hướng ngày càng tăng. Triển vọng của loại hình học tập từ xa qua e-Learning rất to lớn, vì nó giúp thực hiện được giấc mơ gần như huyền thoại của mọi người học là bất cứ người nào cũng có thể hấp thụ một nền giáo dục chất lượng cao bất cứ ở đâu, bất cứ ở thời điểm nào. E-learning là phương hướng tất yếu mà nền giáo dục chúng ta phải đầu tư chuẩn bị, và phải chuẩn bị một cách khẩn trương, nếu chúng ta không muốn bị tụt hậu quá xa. Việc chuẩn bị cho phương hướng này không chỉ ở hạ tầng Internet và các trang bị kỹ thuật khác, mà như đã nói trên đây, quan trọng là ở công nghệ dạy, học, đánh giá tương ứng với loại hình dạy và học đó.

5.4. Công cụ hỗ trợ việc trình diễn

- Cùng với các công cụ để tạo ra các phương tiện dạy học, công cụ hỗ trợ việc trình diễn cũng ngày càng hiện đại và giảm giá nhanh chóng. Ngày nay đã xuất hiện các máy chiếu đa phương tiện (multimedia projector) đơn năng hoặc đa năng nối với máy tính cá nhân hoặc máy vi tính xách tay. Máy chiếu đa phương tiện có nhiều tính năng khác nhau: hoặc chiếu các files văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh và động được lưu giữ trong máy vi tính, hoặc chiếu tranh ảnh từ sách hay từ các tấm nhựa trong, hoặc chiếu các phim video. Cũng có các máy chiếu có gắn đầu thu video cho phép ghi và chiếu tranh ảnh và vật bất kỳ, hai chiều và ba chiều, lên màn ảnh. - Để hỗ trợ cho việc chiếu các văn bản, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động dùng trình diễn trong các lớp học, các buổi báo cáo ở hội nghị, cần dùng các phần mềm. Phần mềm tốt và phổ biến nhất hiện nay là PowerPoint. Với PowerPoint người ta có thể soạn thảo các slides chứa loại files trình diễn khác nhau tĩnh và động. Các slides có thể được in ra để sử dụng cho overhead. Power Point cũng cho phép in ra các tập slides thu nhỏ (handouts) làm tài liệu trao tay khi giảng dạy, báo cáo. Vì giá máy chiếu đa phương tiện ngày càng rẻ nên hiện nay nhiều trường đai học đã trang bị máy chiếu đa phương tiện, do đó PowerPoint là công cụ mà giảng viên và học viên nên biết sử dụng để thiết kế các slides cho overhead hoặc trình diễn trực tiếp trên máy chiếu đa phương tiện. Ngày nay sử dụng PowerPoint còn là một kỹ năng cần thiết cho mọi người để trình bày ở các hội thảo trong và ngoài nước. Khi biết sử dụng Microsoft Word, học sử dụng PowerPoint không khó, chỉ cần học một số động tác từ một người đã biết trong nửa tiếng đồng hồ. Quy tắc làm slides cho PowerPoint và trình bày nhờ máy chiếu đa phương tiện đã được trình bày ở phần công nghệ sử dụng overhead.

5.5. Các thành tựu của các ngành khoa học kỹ thuật khác với việc dạy và học

Sự tiến bộ kỳ diệu của công nghệ thông tin kết hợp với những thành tựu trong các khoa học khác đã tạo nên các công cụ, phương tiện và môi trường làm việc nói chung và áp dụng để dạy và học nói riêng hết sức hữu hiệu. Ở đây chỉ xin lưu ý hai thành tựu quan trọng của tin học áp dụng vào toán học và vào các khoa học thực nghiệm. a. Đối với toán học: Máy vi tính không chỉ thực hiện được cực kỳ nhanh chóng việc tính toán trên các con số như các máy tính trước đây, mà chúng còn giúp tính và biểu diễn kết quả tính toán ra các biểu thức bằng chữ cho các phép tính giải tích, đại số, tìm nghiệm phương trình vi phân, đạo hàm riêng .v..v. Các phần mềm nổi tiếng về lĩnh vực này MATHEMATHICA, MAPLE, MATLAP… không chỉ giúp các nhà khoa học công nghệ tìm được nhanh chóng các lời giải của các bài toán phức tạp nảy sinh từ thực tế mà còn là công cụ và phương tiện để tăng tính hiệu quả của việc giảng dạy toán học. Hiện nay, trước việc xuất hiện các phần mềm rất mạnh này, trong việc dạy toán nảy sinh hai quan niệm ngược nhau. Một số người cho rằng phương pháp dạy toán như trước đây không hề cần thay đổi, việc dạy tư duy toán học vẫn như vậy, chỉ khi nào muốn tính toán mới cần áp dụng các phần mềm tính toán. Một số người khác lại cho rằng mọi công cụ tính toán đã có sẵn, chỉ cần dạy biết cách sử dụng các phần mềm tính toán, không cần học lý thuyết nhiều. Các giảng viên dạy toán nên ứng xử thế nào trước hai xu thế đó? Chúng tôi đã nêu vấn đề nói trên để trao đổi với một số giáo sư dạy toán ở một số trường đại học Mỹ và một số nhà toán học nổi tiếng ở nước ta. Các trao đổi đó đã giúp chúng tôi đi đến quan niệm sau đây về việc dạy toán ở đại học trong thời đại hiện nay. Hai xu hướng về dạy toán đã nêu trên đều cực đoan và không đúng. Rõ ràng phương pháp dạy toán buộc phải thay đổi do việc xuất hiện các phần mềm tính toán rất mạnh đã có, nhưng nên thay đổi theo hướng dành nhiều thời gian để giảng dạy sâu về lý luận, về những khái niệm bản chất của toán học, về cách thiết lập các bài toán…Không nên dành quá nhiều thời gian để làm các bài tập khó, luyện kỹ thuật và mẹo luật tính toán như trước đây, người học chỉ cần làm một số bài tập không phức tạp lắm để hiểu bản chất của vấn đề. Dù sao, một điều không thể chối cãi là muốn dạy toán tốt trong thời đại hiện nay, những người dạy toán không thể không làm quen với các phần mềm tính toán nói trên. Chỉ khi họ hiểu sâu về tính năng và tác dụng của các phần mềm đó họ mới tự rút ra được phương pháp dạy toán tối ưu, và chắc chắn là phương pháp đó sẽ khác trước đây không ít. b. Đối với các khoa học thực nghiệm: Sự vận động của các sự vật, sự hình thành các hiện tượng trong tự nhiên đều tuân theo và bị ràng buộc bởi các định luật nhất định. Với bộ nhớ của máy tính và tốc độ tính toán rất lớn hiện nay, người ta có thể đưa ra mô hình các sự vật nào đó, lập trình mô tả các định luật ràng buộc sự vận động của chúng, từ đó xác định được lộ trình vận động của các sự vật ấy trong các điều kiện nhất định, mô phỏng sự vận động của chúng trong tự nhiên. Người ta gọi cách làm đó là mô phỏng nhờ máy tính (computational simulation). Trong dạy học, các thực nghiệm mô phỏng là công cụ giúp tư duy sâu sắc hơn về các hiện tượng tự nhiên. Bằng cách lập trình không phức tạp lắm ta có thể khảo sát lại, chẳng hạn các bài toán chuyển động của vật ném nghiêng trong trọng trường có tính đến sức cản của không khí, bài toán dao động của con lắc có biên độ lớn, bài toán chuyển động của thái dương hệ theo định luật Kepler có bổ sung phần hiệu chính Einstein vào lực hấp dẫn theo thuyết tương đối tổng quát …Mọi kết quả thu được sẽ gần hơn với thực tế. Như vậy, các thực nghiệm mô phỏng nhờ máy tính giúp giảng dạy các môn khoa học sinh động hơn, giúp hiểu các quy luật tự nhiên sâu sắc hơn, giảng viên dạy các khoa học tương ứng nên làm quen với công nghệ này.

5.6. Mặt trái của việc sử dụng công nghệ mới trong dạy và học

Trên đây đã nêu rất nhiều ưu việt của việc sử dụng công nghệ, đặc biệt là CNTTTTM trong việc dạy và học. Tuy nhiên việc sử dụng công nghệ mới trong giảng dạy cũng có mặt trái của nó mà nếu chúng ta không nhìn thấy trước có thể rất khó khắc phục. Trước hết, nếu mọi sự việc, khái niệm đều được trình bày và minh họa hết sức tường minh bằng mọi thứ hình ảnh, âm thanh thì điều đó có thể làm giảm trí tưởng tượng của người học. Đã có những học sinh khi làm các bài tập về hình học không gian rất thích thú dùng trí tưởng tượng để giải chứ không vẽ hình trên giấy. Sức tưởng tượng là rất cần cho tư duy, và đóng vai trò cao trong hoạt động sáng tạo. Với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mới, với việc khai thác và cung ứng rất nhiều dịch vụ trên hệ thống truyền hình và Internet, người ta có thể có cảm giác là mọi thứ đã được bày sẵn, chỉ có việc dùng chứ không phải động não: tâm lý hưởng thụ nảy sinh, óc phê phán suy giảm. Điều đó có thể tạo cho một số người học thói quen thụ động trong học tập. Nhiều nghiên cứu cho thấy người xem TV thường xử lý những thông tin bậc thấp, ngắn ngủi hình thành khái niệm bột phát, ít khi tạo dựng được những khái niệm khoa học xuất hiện do đọc văn bản hay thảo luận (11). Cũng tương tự như vậy những tác động đối với tình cảm, quan niệm qua việc đọc một cuốn tiểu thuyết thường là sâu sắc hơn, bền vững hơn so với việc xem một cuốn phim tương ứng. Thế mà một xu hướng khá nguy hại về mặt sư phạm là trong thế giới hiện đại ngày nay thời gian dành chi TV của con người quá lớn, theo thống kê ở xã hội Hoa Kỳ, bằng cỡ 20% thời gian mà học sinh thức. Càng nguy hại hơn khi nhiều công ty do mục đích lợi nhuận đưa ra nhiều sản phẩm kích thích tâm lý hưởng thụ, làm hại các mục tiêu giáo dục. Cũng từ xu hướng trên của xã hội hiện đại, một hiện tượng mà các nhà văn hóa và giáo dục ở mọi nước đều hết sức lo lắng là tình trạng suy giảm của “văn hóa đọc” hiện nay trong xã hội, đặc biệt trong thế hệ trẻ. Như vậy, công nghệ mới cũng là con dao hai lưỡi, nếu sử dụng tốt thì lợi ích chúng đem lại cực kỳ to lớn, nhưng nếu phó mặc cho chúng tác yêu tác quái thì những tác hại về giáo dục cũng thật khôn lường. Do đó nhà giáo phải có ý thức chủ động đón nhận những công nghệ mới, khai thác chúng bằng cách tác động hạn chế bớt hoặc đẩy lùi các xu hướng bất lợi. Chẳng hạn, có thể giảm bớt tác hại của việc xem TV, video một cách tự phát có thể khai thác lợi ích của phương tiện đó bằng cách tổ chức những hoạt động bổ sung: tổ chức xem TV, video theo một kế hoạch được chuẩn bị trước, sau đó có những thảo luận theo chủ đề. Và nói chung, cần kết hợp các phương pháp dạy và học dùng nhiều công nghệ mới với các phương pháp dạy và học truyền thống ở mức độ nào đó để thu được hiệu quả học tập tối đa.

6. VỀ VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA NHÀ GIÁO ĐẠI HỌC TRONG THỜI ĐẠI THÔNG TIN

Thời đại thông tin đã tạo những cơ hội mới, nhưng cũng đặt nhà giáo đại học trước những thách thức mới. Vậy nhà giáo đại học phải làm gì trước tình hình đó? Tư liệu của Hội nghị Paris về GDĐH (5) có nêu tóm tắt yêu cầu đối với một "nhà giáo mới"ở đại học: "phải làm chủ được môi trường công nghệ thông tin và truyền thông mới, đồng thời phải chuẩn bị về mặt tâm lý cho một sự thay đổi cơ bản về vai trò của họ". Như đã nói, theo các mô hình thông tin và mô hình tri thức vai trò của nhà giáo thay đổi một cách cơ bản so với theo mô hình truyền thống, họ không còn là người truyền thụ kiến thức, mà là người hỗ trợ hướng dẫn tìm chọn và xử lý thông tin. Từ đó có người hỏi: vậy thì vị trí của nhà giáo trong thời đại mới như thế nào, họ có bị “ra rìa” không, câu ngạn ngữ "không thầy đố mày làm nên" của dân ta có còn đúng nữa không? Chúng tôi cho rằng vai trò của nhà giáo thay đổi, nhưng vị trí của nhà giáo hoặc là không đổi, hoặc là được nâng cao hơn so với trước đây, nếu nhà giáo thoả mãn được những đòi hỏi của thời đại mới. Thật vậy, trong khi nhấn mạnh đến tầm quan trọng của giáo dục từ xa, Hội nghị Paris về GDĐH cho rằng trong giáo dục phương thức giáo dục mặt-đối-mặt vẫn chiếm vị trí hàng đầu. Tác dụng của sự tương tác trong việc dạy và học được nhấn mạnh ở mọi nơi, đặc biệt trong mô hình tri thức qua vai trò của nhóm. Có thể nói khi nhấn mạnh sự tương tác, vị trí của một đối tác có bề dày về kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xử lý thông tin sẽ nổi trội, sự đóng góp của đối tác đó cho tập thể sẽ rất lớn không phải bằng sự độc quyền về thông tin và tri thức có tính đẳng cấp, mà bằng trí tuệ và sự uyên bác của mình. Rõ ràng là nhà giáo đại học có thể và cần phải khẳng định vị trí của mình trong các mối tương tác đó. Nhà giáo đại học hiện nay có sứ mạng đi đầu để chuẩn bị cho cuộc cách mạng thực sự về giáo dục nói trên. Vai trò tiên phong đó sẽ nâng vị trí của nhà giáo đại học lên rất nhiều so với trước đây. Với cơ hội mà CNTTTTM đưa lại, những kinh nghiệm và ý tưởng sáng tạo có giá trị thật sự của bất kỳ một cá nhân nhà giáo nào cũng dễ dàng được truyền bá rộng rãi đến số lượng người học đông hơn nhiều so với trước đây, không chỉ giới hạn trong bốn bức tường lớp học mà có thể lan rộng ra cả nước và thậm chí vượt qua mọi biên giới quốc gia, điều đó làm cho vị trí của nhà giáo đại học thật sự được nâng lên cao hơn nhiều so với trước đây. Rõ ràng là vị trí của nhà giáo đại học trong thời đại thông tin không hề giảm, và có cơ hội tăng lên. Tuy nhiên việc có giữ vững và nâng cao được vị trí đó hay không còn tuỳ thuộc vào sự phấn đấu của bản thân từng nhà giáo để đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới. Chúng ta có thể hy vọng trước những vận hội và thách thức của thời đại mới, đa số nhà giáo đại học chúng ta sẽ không bị “ra rìa”.

___________________________

TÓM TẮT

Các vấn đề chính đã được đề cập đến trong chủ đề này: - "Học là quá trình tự biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách chọn nhập và xử lý thông tin lấy từ môi trường xung quanh. Dạy là việc giúp cho người học tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng và hình thành hoặc biến đổi những tình cảm, thái độ". Đó là quan niệm tổng quát về dạy và học theo cách tiếp cận thông tin, từ đó người dạy có vai trò giúp cho người học chọn, nhập và xử lý thông tin để biến thành tri thức chứ không phải là nguồn truyền thông tin cho người học. - Trong thời kỳ mới của đất nước, tiêu chí lựa chọn phương pháp để dạy và học ở bậc đại học là dạy Cách học, phát huy tính Chủ động của người học và khai thác triệt để Công nghệ thông tin và truyền thông mới. - Công nghệ thông tin và truyền thông mới là công nghệ trực tiếp sinh ra nền kinh tế tri thức, và cũng tạo nên mầm mống của một cuộc cách mạng giáo dục thực sự, trong đó những cơ cấu cứng nhắc theo truyền thống về mối quan hệ "không gian-thời gian-trật tự thang bậc" sẽ bị phá vỡ. - Áp dụng công nghệ, đặc biệt là CNTTTTM để đổi mới việc dạy và học ở bậc đại học là đòi hỏi quan trọng để nâng cao hiệu quả của việc dạy và học. Tuy nhiên việc chọn lựa và áp dụng công nghệ nào ở mức độ nào phải xuất phát từ khoa học về nhận thức, tức phải dựa vào các nguyên tắc sư phạm để lựa chọn công nghệ. - Không nên vì theo đuổi công nghệ mới mà coi thường các công nghệ cổ điển: công nghệ phấn-bảng vẫn có chỗ đứng vững chắc của nó, công nghệ sử dụng overhead là công nghệ rất đa năng, rẻ tiền và hiệu quả cao. - Với định một nghĩa khoa học tổng quát, đa phương tiện là công cụ cực kỳ mạnh mẽ hỗ trợ cho việc dạy và học. Mạng Internet là công cụ để tìm kiếm khai thác thông tin và học tập từ xa. Để khai thác được các công nghệ mới này phục vụ việc dạy và học, giảng viên trước hết phải khắc phục tâm lý ngại dùng máy tính, phải nắm được công nghệ soạn thảo văn bản, soạn thảo slides, sử dụng "bảng công tác", và đặc biệt là kỹ năng tìm thông tin. - Một số nguồn thông tin rất quan trọng, phong phú và hấp dẫn hiện nay mà giảng viên và học viên nên biết là các từ điển bách khoa ENCARTA, WIKIPEDIA; công cụ tìm tin trên Internet tiện dụng và có hiệu quảc nhất là Google, Yahoo!... - Theo đà phát triển của công nghệ thông tin các ngành khoa học khác cũng đạt được những thành tựu và tạo ra các công cụ mới hỗ trợ cho việc dạy, học và nghiên cứu. Các phần mềm tính toán, các thí nghiệm mô phỏng… là các công cụ quan trọng phục vụ việc dạy và học. Phần mềm tính toàn cho thấy muốn dạy toán tốt trong thời đại hiện nay, những người dạy toán không thể không làm quen với các phần mềm tính toán nói trên để có định hướng đúng hơn trong việc dạy toán. - Việc sử dụng công nghệ mới trong dạy và học cũng có mặt trái: chúng có thể làm giảm trí tưởng tượng, taọ thói quen thụ động, tâm lý hưởng thụ …Đặc biệt tác hại là công nghệ mới làm ảnh hưởng đến "văn hóa đọc". Do đó cần kết hợp các công nghệ mới với các phương pháp dạy và học truyền thống ở mức độ nào đó dựa trên cơ sở khoa học về nhận thức để thu được hiệu quả tối đa trong dạy và học. - Yêu cầu đối với một "nhà giáo mới" ở đại học trong thời đại mới là "phải làm chủ được môi trường công nghệ thông tin và truyền thông mới, đồng thời phải chuẩn bị về mặt tâm lý cho một sự thay đổi cơ bản về vai trò của họ". ö

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

1. Theo cách tiếp cận thông tin thì học là gì, dạy là gì? Làm sao có được kinh nghiệm chọn nhập và xử lý thông tin?

2. Nêu và phân tích các tiêu chí để lựa chọn phương pháp dạy và học ở đại học trong thời kỳ mới.

3. Tại sao phải sử dụng công nghệ, đặc biệt là công nghệ mới, trong việc dạy và học?

4. Công nghệ thông tin – truyền thông mới có vai trò như thế nào đối với xã hội loài người? Trên cơ sở nào người ta có thể nói các công nghệ đó đang tạo nên một cuộc cách mạng trong giáo dục?

5. Tác dụng của công nghệ phấn bảng cổ điển trong thời đại ngày nay? Tại sao công nghệ overhead có tác dụng rất quan trọng trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở nước ta? Các nguyên tắc quan trọng nào cần lưu ý khi thiết kế slides và khi trình bày dùng overhead, projector?

6. Bạn có ngại sử dụng máy tính không? Đã thạo sử dụng máy tính chưa? Nếu chưa, hãy nêu kế hoạch nâng cao năng lực sửdụng máy tính.

7. Có thể hiểu thế nào về multimedia với tư cách là một thuật ngữ tin học mô tả một khái niệm mới? Tác động của multimedia đối với giáo dục?

8. Điểm qua những tiến bộ to lớn về công cụ lưu giữ, sao chép, ghi nhận, trình diễn thông tin hiện nay.

9. Điểm qua một số tính năng đặc biệt của các phần mềm Microsoft Word, Microsoft Excel, PowerPoint phục vụ việc dạy và học. 10. Bạn biết gì về các từ điển ENCARTA, WIKIPEDIA, máy tìm tin Google?

11. Các phần mềm tính toán mạnh có ảnh hưởng gì đến phương pháp giảng dạy toán không? Giảng viên cần có thái độ như thế nào trước các phần mềm đó?

12. Các phần mềm thí nghiệm mô phỏng có thể giúp ích gì cho giảng viên các môn khoa học kỹ thuật? Các tư liệu multimedia nào đặc biệt quan trọng đối với giảng viên các môn khoa học xã hội, nhân văn?

13. Nêu các mặt tác hại xấu đáng lưu ý nhất khi sử dụng công nghệ mới và phương hướng khắc phục.

14. Các phương hướng cơ bản mà nhà giáo cao đẳng, đại học phải phấn đấu thực hiện trong thời đại hiện nay? Vai trò và vị trí của họ sẽ thay đổi như thế nào trong thời đại mới?

___________________________

TÀI LIỆU DẪN Trần Xuân Giáp

- Phương tiện Dạy học – NXB Giáo dục, 1998

. Nguyễn Ngọc Quang – trong: "Nguyễn Ngọc Quang, nhà sư phạm, người góp phần đổi mới lý luận dạy học", NXB ĐHQG, 1998.

Lâm Quang Thiệp - Việc dạy và học ở đại học và vai trò của nhà giáo đại học trong thời đại thông tin, “Giáo dục học Đại học”, ĐHQGHN, 2000. Lâm Quang Thiệp - Về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy và học ở các trường đạihọc nước ta tronbg thời kỳ mới. Tạp chí Giáo dục, số 120, 6/2005. "Nghị quyết về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020” số 14/2005/NQ-CP của Chinh phủ ban hành ngày 2/11/05. Michel Develay - Peut-on Former les enseignants? ESF Editeur. Paris. 1994. Jean-Marc Denommé & Madeleine Roy - Tiến tới một phương pháp sư phạm tích cực, NXB Thanh niên, 2000. Higher Education in the Twenty-first Century - Vision and Action. World Conference on Higher Education. UNESCO Paris . October 1998. Patricia L. RogersDesigning Instruction for Technology Enhanced Learning, IDEA GROUP Publishing, 2002. Yapi A. The relevant of educational technology in developing contries. UAESCO-AFFICA, 1997. Jack M. Wilson - The Technologycal Revolution – Reflection on the Proper Role of Technology in Higher Education. in “In Defence of American Higher Education”. The Johns Hopkins University Press, 2001.

Last Updated ( Thursday, 16 July 2009 02:30 )  

Obtener Plugin Flash para visualizar este reproductor

Hỗ trợ trực tuyến
 Hỗ trợ khách hàng
  Hỗ trợ 01 Ms Ngoc Anh : 092 577 9596
  Hỗ trợ 02 Ms Ngoc Anh : 092 577 9596
 Kinh doanh
  Kinh Doanh 01 Ms Ngoc Anh : 092 577 9596
  Kinh Doanh 02 Ms Ngoc Anh : 092 577 9596
  Kinh Doanh 03 Ms Ngoc Anh : 092 577 9596
 Kỹ thuật
  Kỹ Thuật 01 Mr.Hiep : 0986 727 521
  Kỹ Thuật 02 Mr.Hà: 0986 727 521
  Kỹ Thuật 03 Mr.Mạnh : 0986 727 521
  Kỹ Thuật 04 Mr.Truong: 0984 724 238
Đối tác đã triển khai
Trường Đại học Sư phạm Hà nội
Trường Đại học Mở TPHCM 
Trường Đại học Y Hà nội
Trường Đại học Đà nẵng 
Trường Cao  đẳng Việt hàn 
Trường Cao  đẳng Sự phạm Nghệ an
Trường CĐ Nông nghiệp Bắc bộ
 Sở giáo dục tỉnh Vĩnh long
 Sở giáo dục TP Hà nội
CÔNG TY CỔ PHẦN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC VIỆT NAM (EDTECH-VN)
Add: Tầng 6-Phòng 606-Khu đô thị nhà ở và thương mại Nàng Hương-583 Nguyễn Trãi-Thanh Xuân-Hà Nội
Tel: (84-4) 35145566 - Fax: (84-4) 35148890 - Email: contact@edtech.com.vn