Chọn ngôn ngữ: Tiếng việt   English
Lý luận nghiên cứu
Lý thuyết ứng đáp câu hỏi trắc nghiệm

GS. TSKH. LÂM QUANG THIỆP

1. Yêu cầu về tính khách quan của phép đo dùng ĐTN

Trắc nghiệm là một phép đo. Cũng như mọi phép đo khác trong khoa học và đời sống, ở phép đo bằng trắc nghiệm ta cũng có một thước đo và một đối tượng đo

Đào tạo bồi dưỡng
Các khóa đào tạo tập huấn

 Để giúp nâng cao hiểu biết của giáo viên trung học phổ thông cũng như việc sử dụng đúng phương pháp TNKQ cho việc thi, kiểm tra trong nhà trường,

Thời tiết
Bạn đang xem Dịch vụ Phân tích câu hỏi trắc nghiệm

Phân tích câu hỏi trắc nghiệm

E-mail Print PDF

GS. TSKH. LÂM QUANG THIỆP

1. Phân loại các phương pháp trắc nghiệm
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một phép lượng giá cụ thể mức độ khả năng thể hiện hành vi trong lĩnh vực nào đó của một người cụ thể nào đó (sau đây chúng ta sẽ gọi chung là thí sinh, TS).

Về cách thực hiện trắc nghiệm, có thể phân chia các phương pháp trắc nghiệm ra làm ba loại lớn: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết (xem sơ đồ H.1).

  • Loại quan sát giúp đánh giá các thao tác, các hành vi, các phản ứng vô thức, các kỹ năng thực hành và cả một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu.
  • Loại vấn đáp có tác dụng tốt để đánh giá khả năng đáp ứng các CH được nêu một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra, cũng thường được sử dụng khi sự tương tác giữa người hỏi và người đối thoại là quan trọng, chẳng hạn để xác định thái độ người đối thoại ...
  • Loại viết thường được sử dụng nhiều nhất, vì nó có các ưu điểm sau:
    • cho phép kiểm tra nhiều TS cùng một lúc;
    • cho phép TS cân nhắc nhiều hơn khi trả lời;
    • có thể đánh giá một vài loại tư duy ở mức độ cao;
    • cung cấp các bản ghi trả lời của TS để nghiên cứu kỹ khi chấm;
    • dễ quản lý vì người chấm không tham gia trực tiếp vào bối cảnh kiểm tra.

 

Phân loại các phương pháp trắc nghiệm

Trắc nghiệm viết lại được chia thành hai nhóm chính:

Nhóm các CH tự luận (TL- essay test): Các CH buộc phải trả lời theo dạng mở, TS phải tự mình trình bày ý kiến trong một bài viết để giải quyết vấn đề mà CH nêu ra.

Nhóm các CH trắc nghiệm khách quan (TNKQ - objective test): Đề thi thường bao gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu lên vấn đề và những thông tin cần thiết để TS có thể trả lời từng câu một cách ngắn gọn.

Ở nước ta nhiều người thường gọi tắt trắc nghiệm khách quan là “trắc nghiệm”. Thuận theo thói quen ấy, từ nay về sau trong giáo trình này khi dùng từ “trắc nghiệm” mà không nói gì thêm thì ta ngầm hiểu là TNKQ.

Về cách chuẩn bị ĐTN, có thể phân chia trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá và trắc nghiệm dùng ở lớp học.

  • Trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá thường do các chuyên gia trắc nghiệm soạn thảo, thử nghiệm, tu chỉnh, do đó mỗi câu trắc nghiệm được gắn với các chỉ số cho biết thuộc tính và chất lượng của nó (độ khó, độ phân biệt, phản ánh nội dung và mức độ kỹ năng nào), mỗi đề thi trắc nghiệm có gắn với một độ tin cậy xác định, ngoài ra có những chỉ dẫn cụ thể về cách triển khai trắc nghiệm và giải thích kết quả trắc nghiệm.
  • Trắc nghiệm dùng ở lớp học (hoặc trắc nghiệm do giáo viên soạn) là trắc nghiệm do giáo viên tự viết để sử dụng trong quá trình giảng dạy, có thể chưa được thử nghiệm và tu chỉnh công phu, thường chỉ sử dụng trong các kỳ kiểm tra với số lượng học sinh không lớn và không thật quan trọng.

Về việc đảm bảo thời gian để làm trắc nghiệm, có thể phân chia loại trắc nghiệm theo tốc độ và trắc nghiệm không theo tốc độ.

  • Trắc nghiệm theo tốc độ thường hạn chế thời gian, chỉ một ít TS làm nhanh mới có thể làm hết số câu của ĐTN, nhằm đánh giá khả năng làm nhanh của thí sinh.
  • Trắc nghiệm không theo tốc độ thường cung cấp đủ thời gian cho phần lớn sinh có thể kịp suy nghĩ để làm hết ĐTN.

Về phương hướng sử dụng kết quả trắc nghiệm, có thể phân chia ra trắc nghiệm theo chuẩn (norm-referrenced test) và trắc nghiệm theo tiêu chí (criterion-referrenced test)

  • Trắc nghiệm theo chuẩn: là trắc nghiệm được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với các các nhân khác cùng làm một ĐTN.
  • Trắc nghiệm theo tiêu chí: là trắc nghiệm được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với một tiêu chí xác định nào đó cho trước.

2. Các kiểu CH trắc nghiệm khách quan

Trong nhóm TNKQ có nhiều kiểu CH khác nhau:

  • Câu ghép đôi (matching items) đòi hỏi TS phải ghép đúng từng cặp nhóm từ ở hai cột với nhau sao cho phù hợp về ý nghĩa. Lấy thí dụ câu trắc nghiệm về văn học:

Hãy tìm ở cột bên phải tên tác giả của hai câu thơ liệt kê ở cột bên trái:

1. Hồ Tây cảnh đẹp hoá gò hoang
Thổn thức bên song mảnh giấy tàn

2. Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

3. Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

4. Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang, nắng trở chiều

5. Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu
Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều

a. Thâm Tâm

b. Xuân Diệu

c. Huy Cận

d. Nguyễn Du

e. Hàn Mặc tử

g. Tố Hữu

Đáp án: 1-d, 2-b, 3-a, 4-b, 5-g

Đối với loại CH ghép đôi, người ta thường cho số yếu tố ở cột bên trái không bằng số yếu tố ở cột bên phải, vì rằng khi số yếu tố ở hai phía bằng nhau thì hai yếu tố cuối cùng sẽ mặc nhiên được ghép với nhau mà không phải lựa chọn.

  • Câu điền khuyết (supply items): nêu một mệnh đề có khuyết một bộ phận, TS phải nghĩ ra nội dung thích hợp để điền vào chỗ trống.

Lấy thí dụ với câu trắc nghiệm về lịch sử:

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ chí Minh đã đọc.................... khai sinh nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa..

Đáp án: Tuyên ngôn độc lập.

  • Câu trả lời ngắn (short answer): là câu trắc nghiệm chỉ đòi hỏi trả lời bằng nội dung rất ngắn. Lấy thí dụ với câu trắc nghiệm về sinh học:

Nguyên nhân hình thành các đặc điểm thích nghi của sinh vật là gì?

Đáp án: Chọn lọc tự nhiên.

  • Câu đúng sai (yes/no questions): đưa ra một nhận định, TS phải lựa chọn một trong hai phương án trả lời để khẳng định nhận định đó là đúng hay sai. Lấy thí dụ với câu trắc nghiệm về hoá học:

Sự khử là quá trình nhường electron

A) Đúng B) Sai

Đáp án: B

  • Câu nhiều lựa chọn (NLC - multiple choise questions) đưa ra một nhận định và 4 - 5 phương án trả lời, TS phải chọn để đánh dấu vào một phương án đúng hoặc phương án tốt nhất. Lấy thí dụ với câu trắc nghiệm toán:

ABC là một tam giác tuỳ ý với cả 3 góc nhọn; khi đó giá trị nhỏ nhất của tích P = tgA.tgB.tgC là:

A) <!--[if !vml]--> <!--[endif]-->B) <!--[if !vml]--><!--[endif]-->C) 2<!--[if !vml]--><!--[endif]--> D) 3<!--[if !vml]--><!--[endif]--> E) <!--[if !vml]--><!--[endif]-->

Đấp án: D

Trong các kiểu câu trắc nghiệm đã nêu, kiểu câu đúng-sai và kiểu câu NLC có cách trả lời đơn giản nhất. Câu đúng-sai cũng chỉ là trường hợp riêng của câu nhiều lựa chọn với 2 phương án trả lời.

Dễ dàng thấy rằng khi một người hoàn toàn không có hiểu biết đánh dấu hú họa để trả lời một CH đúng sai thì xác suất để anh ta làm đúng là ½ hoặc 50%, cũng vậy nếu anh ta đánh dấu hú hoạ để trả lời câu trắc nghiệm NLC với n phương án trả lới thì xác suất để anh ta làm đúng là 1/n.

Trong các kiểu câu trắc nghiệm, kiểu câu NLC chọn được sử dụng phổ biến hơn cả vì chúng có cấu trúc đơn giản, dễ xây dựng thành các bài thi, dễ chấm điểm. Vì vị trí quan trọng của kiểu CH NLC nên dưới đây chúng ta sẽ nói kỹ hơn về chúng. Loại câu trắc nghiệm nhiều NLC thường dùng nhất là loại có 4 hoặc 5 phương án trả lời, vì số phương án như vậy vừa đủ để giảm xác suất làm đúng do đoán mò hú hoạ xuống còn 25%, 20%, đồng thời câu cũng không quá phức tạp khó xây dựng.

Câu trắc nghiệm NLC có hai phần, phần đầu được gọi là phần dẫn, nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu một câu hỏi; phần sau là các phương án để chọn, thường được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D,... hoặc các chữ số 1, 2, 3,... Trong các phương án để chọn chỉ có duy nhất một phương án đúng hoặc có một phương án đúng nhất; các phương án khác được đưa vào có tác dụng “gây nhiễu” (distractor) đối với thí sinh. Nếu câu NLC được soạn tốt thì một người không nắm vững vấn đề sẽ không thể nhận biết được trong tất cả các phương án để chọn đâu là phương án đúng, đâu là phương án nhiễu. Một số chuyên gia trắc nghiệm ở phía Nam còn gọi các phương án nhiễu là “mồi nhử”.

Chúng ta hãy xem xét một thí dụ về câu trắc nghiệm vật lý sau đây:

Một viên bi được ném lên theo phương thẳng đứng. Sức cản của không khí không đáng kể. Trong quá trình chuyển động, gia tốc của viên bi có hướng từ trên xuống:

A) chỉ khi viên bi đi lên

B) chỉ khi viên bi ở điểm cao nhất của quỹ đạo

C) chỉ khi viên bi đi lên và khi đi xuống

D) chỉ khi viên bi ở điểm cao nhất của quĩ đạo và khi đi xuống

E) khi viên bi đi lên, khi ở điểm cao nhất của quĩ đạo và khi đi xuống.

Trong câu trắc nghiệm NLC này phần dẫn cho ta những thông tin để suy luận:

- Khi viên bi đi lên, tốc độ của nó giảm, do đó gia tốc phải có hướng ngược với vận tốc viên bi. Vì vận tốc lúc đó hướng lên nên gia tốc phải hướng xuống.

- Khi viên bi đi xuống, tốc độ của nó tăng, do đó gia tốc của nó phải có hướng trùng với hướng vận tốc, tức là hướng xuống.

- Ở điểm cao nhất của quĩ đạo viên bi có tốc độ tức thời bằng không nhưng vận tốc của nó đổi từ hướng lên sang hướng xuống, nghĩa là gia tốc hướng xuống.

Như vậy, trong cả ba trường hợp viên bi đều bị tác dụng bởi một lực hướng xuống, đó là lực hấp dẫn của Trái đất. Theo định luật II Newton, gia tốc phải có hướng của lực tác dụng, nghĩa là hướng xuống trong cả ba trường hợp. Vì thế, câu trả lời đúng nhất trong thí dụ này là câu E.

Rõ ràng, với câu trắc nghiệm trong thí dụ vừa nêu, nếu TS không nắm được kiến thức vật lý về chuyển động có gia tốc và lực hấp dẫn thì không thể biết phương án cần chọn là phương án nào. Ngay cả đối với TS biết nhưng không hiểu sâu vấn đề thì họ vẫn có thể chỉ chọn phương án C, và như vậy câu trả lời của TS vẫn là sai. Chính các phương án A, B, C, D trong thí dụ này có tác dụng gây nhiễu đối với thí sinh, thậm chí làm cho TS lạc hướng hoàn toàn nếu kiến thức không đủ vững.

Trong khi soạn thảo câu trắc nghiệm, người ta thường cố gắng làm cho các phương án nhiễu đều có vẻ “có lý” và “hấp dẫn” như phương án đúng. Chẳng hạn, chúng ta hãy xem câu trắc nghiệm rất đơn giản về toán sau đây (cho học sinh mới bắt đầu học Đại số):

Cho a = 15 và b = 2; tích của a và b bằng...

A) 17 B) 13 C) 7.5 D) 30 E) 225

TS nắm vững khái niệm đã học sẽ hiểu ngay rằng tích của a và b là kết quả của phép nhân a với b, tức là 15 x 2 và chọn phương án trả lời D. Trong khi đó, đối với TS không hiểu rõ khái niệm tích, mà làm lẫn với tổng, hiệu, luỹ thừa v..v..thì các phương án A, B, C, E đều có vẻ “có lý”, có thể lôi cuốn TS vào một trong các phương án trả lời sai:

a + b = 15 + 2 = 17 -> chọn A

a - b = 15 - 2 = 13 -> chọn B

a: b = 15: 2 = 7.5 -> chọn C

ab = 152 = 225 -> chọn E

Về nguyên tắc, đối với người có kinh nghiệm viết trắc nghiệm, một nội dung bất kỳ nào cần kiểm tra đều có thể được thể hiện vào một câu trắc nghiệm theo một kiểu nào đó. Vì thế đối với tất cả các môn học người ta đều có thể viết CH trắc nghiệm. Tuy nhiên, do đặc thù của từng môn học mà việc viết trắc nghiệm cho môn này có thể khó hơn cho môn kia.

Cần lưu ý rằng không phải bất cứ ai có kiến thức chuyên môn cũng viết được câu trắc nghiệm có chất lượng cao cho chuyên môn đó. Muốn viết CH trắc nghiệm tốt phải suy nghĩ sâu sắc về chuyên môn và tích lũy kinh nghiệm sau một thời gian thử nghiệm lâu dài. Thế mà một số người không có khả năng viết được câu trắc nghiệm tốt hoặc không hiểu hết ý tứ của các câu trắc nghiệm thường vội kết luận rằng trắc nghiệm chỉ đánh giá được khả năng nhớ tầm thường!

3. So sánh các phương pháp trắc nghiệm khách quan và tự luận

TL cho phép có một sự tự do tương đối nào đó để trả lời một CH được đặt ra, nhưng đồng thời lại đòi hỏi học sinh phải nhớ lại hơn là nhận biết thông tin, và phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của họ một cách chính xác và sáng sủa. ĐTN tự luận thường được chấm điểm một cách chủ quan và các điểm cho bởi những người chấm khác nhau có thể không thống nhất. Thông thường một ĐTN tự luận gồm ít CH hơn là một ĐTN khách quan do phải cần nhiều thời gian để trả lời mỗi câu hỏi.

TNKQ thường có nhiều phương án trả lời được cung cấp cho mỗi CH của ĐTN nhưng chỉ có một phương án duy nhất là đúng hoặc đúng nhất, phù hợp nhất. ĐTN được chấm điểm bằng cách đếm số lần mà người làm trắc nghiệm đã chọn được phương án trả lời đúng trong số những phương án trả lời đã được cung cấp. ĐTN được gọi là khách quan vì việc cho điểm là khách quan chứ không chủ quan như đối với ĐTN tự luận. Có thể nói là kết quả chấm điểm sẽ như nhau, không phụ thuộc vào việc ai chấm ĐTN đó. Thông thường bài TNKQ gồm có nhiều CH hơn ĐTN TL, và mỗi CH thường có thể được trả lời bằng cách đánh dấu đơn giản.

Có một CH thường nẩy sinh: trong hai phương pháp TNKQ và TL, phương pháp nào tốt hơn? Cần phải khẳng định ngay rằng không thể nói phương pháp nào hoàn toàn tốt hơn; mỗi phương pháp có các ưu điểm và nhược điểm nhất định. Bảng so sánh dưới đây cho thấy tuỳ theo từng vấn đề, ưu thế thuộc về phương pháp nào.

Trước hết, một đề thi TNKQ bao gồm rất nhiều câu hỏi, mà việc tạo nên mỗi CH đòi hỏi rất nhiều công sức và sự khéo léo, do đó để hình thành một đề thi TNKQ cần nhiều thời gian hơn so với hình thành một đề thi TL chỉ với một vài câu hỏi. Đề thi TNKQ cũng không đánh giá được khả năng diễn đạt của TS như đề TL, vì để làm đề thi TNKQ TS chỉ cần đánh dấu khi lựa chọn phương án trả lời hoặc chỉ điền một vài từ cần thiết. Đề thi TNKQ cũng không đánh giá được tư duy hình tượng của TS như qua các áng văn, bài thơ.

Vấn đề

Ưu thế thuộc về phương pháp

Trắc nghiệm

Tự luận

Ít tốn công ra đề thi

 

X

Đánh giá được khả năng diễn đạt, đặc biệt là diễn đạt tư duy hình tượng

 

X

Đề thi phủ kín nội dung môn học

X

 

Ít may rủi do trúng tủ, trật tủ

X

 

Ít tốn công chấm thi

X

 

Khách quan trong chấm thi

X

 

Áp dụng được công nghệ mới trong việc nâng cao chất lượng kỳ thi, giữ bí mật đề thi, hạn chế quay cóp khi thi, hạn chế tiêu cực trong chấm thi và giúp phân tích kết quả thi

X

 

TNKQ cho phép soạn thảo các đề thi bao gồm năm bảy chục thậm chí hàng trăm trăm câu hỏi, mỗi câu có thể trả lời trong thời gian một vài phút, và trong vòng một tiếng đồng hồ TS có thể trả lời xong một đề thi khá dài. Một đề thi như vậy có khả năng phủ kín tất cả nội dung của một môn học hoặc một chương trình học. Ngược lại, một đề thi TL làm trong một vài tiếng đồng hồ chỉ có thể liên quan đến một vài chủ đề của môn học hoặc chương trình học. Chính vì nguyên nhân trên mà mà với kiểu đề thi bằng TNKQ TS không thể học tủ như kiểu thi bằng đề TL.

Chúng ta hãy bàn về sự may rủi. Với kiểu đánh dấu có vẻ giản đơn khi làm đề thi TNKQ, một số người tưởng rằng một TS không có chút kiến thức nào cũng có thể làm tốt bài thi nếu “số đỏ” giúp anh ta đánh dấu đúng vào những chỗ cần thiết. Từ suy nghĩ đó một số người thường hay nhầm tưởng rằng đề thi TNKQ tạo nên độ may rủi nhiều hơn đề thi TL. Hoàn toàn ngược lại! Với một đề thi TL TS rất dễ gặp may rủi do trúng tủ, trật tủ, còn với đề thi TNKQ sự may rủi hầu như hoàn toàn không xảy ra. Thật vậy, như đã nói ở trên, vì đề thi TNKQ bao gồm hàng trăm câu hỏi nhỏ phủ kín chương trình học. Nếu TS nắm chắc nội dung môn học thì sẽ làm đúng phần lớn các câu trắc nghiệm. Trong trường hợp TS không nắm vững một vài chi tiết của môn học thì số ít câu không làm được cũng không ảnh hưởng lớn đến kết quả của bài thi. Ngược lại, đề thi TL thường chỉ liên quan đến một vài chủ đề của môn học, do đó ngoài những TS học chắc thật sự, những TS “trúng tủ” cũng sẽ đạt kết quả cao; còn TS “trật tủ” sẽ bị đánh hỏng, bất kể kiến thức của anh ta về phần lớn nội dung còn lại của môn học như thế nào. Vậy “số đỏ” có bao giờ đến với một TS đánh dấu bừa vào bài thi mà không cần hiểu biết gì không? Có thể khẳng định là không bao giờ! Thật vậy, giả sử một đề thi trắc nghiệm có 100 CH NLC với 5 phương án trả lời, nếu TS đánh dấu hú họa vào các phương án nào đó, xác suất để anh ta làm đúng chỉ là 20%. Với số CH lớn, tần suất làm đúng của anh ta sẽ gần với xác suất, tức là bằng cách đánh dấu hú họa, số câu anh ta “làm đúng” chỉ chiếm khoảng trên dưới 20 trong 100 câu hỏi. Và theo cách chấm điểm TNKQ thông thường thì đối với một ĐTN 100 câu nếu chỉ làm đúng 20 câu thì điểm đạt được sẽ lân cận điểm không.

Nếu TNKQ rất tốn công làm đề thi thì bù lại, việc chấm bài thi TNKQ khi đã có đáp án là hết sức nhanh chóng. Người ta có thể chấm bài thi bằng cách sử dụng phiếu đục lỗ để đếm số phương án trả lời đúng, dùng các phần mềm đọc bài thi nhờ máy vi tính hoặc nhờ các máy quét dấu hiệu quang học (optical mark reader – OMR) có thể quét hàng chục nghìn bài thi trong một giờ.

Một sự khác nhau quan trọng nhất giữ phương pháp TNKQ và TL là ở tính khách quan. Đối với đề TL, kết quả chấm thi phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan của người chấm do đó rất khó công bằng, chính xác. Để hạn chế mức độ chủ quan đó, người ta cải tiến việc chấm bài TL bằng cách đã ra các đáp án có thang điểm rất chi tiết. Tuy vậy nhiều thử nghiệm cho thấy sự thiên lệch của việc chấm bài TL thường rất lớn.

Với loại đề TNKQ, khi đã có sẵn đáp án, việc chấm bài là hoàn toàn khách quan, chính xác, không phụ thuộc người chấm, nhất là khi bài được chấm bằng máy. Đây là một ưu điểm lớn của phương pháp TNKQ. Chính vì thế người ta thường gọi phương pháp này là trắc nghiệm khách quan. Tuy nhiên, cũng không thể nói phương pháp làm đề thi nào là tuyệt đối khách quan, vì việc soạn thảo các CH và định điểm cho các CH có phần tuỳ thuộc vào người soạn.

Ở các phần sau sẽ cho thấy rõ cùng với những thành tựu của “Lý thuyết ứng đáp Câu hỏi” (Item Respose Theory) và tin học, công nghệ hỗ trợ cho phương pháp TNKQ phát triển rất mạnh và đạt được những thành tựu quan trọng. Những thành tựu đó giúp tạo nên các phương tiện để đánh giá từng CH và đề thi TNKQ, giúp chọn các mẫu thử nghiệm hợp lý để nâng cao chất lượng và độ tin cậy của đề thi TNKQ, cũng tạo điều kiện cho phép nhiều người có thể đóng góp trong một thời gian dài để chuẩn bị cho một đề thi TNKQ có chất lượng cao, vừa giữ an toàn và bí mật cho đề thi. TNKQ cũng hạn chế nạn quay cóp, gian lận trong quá trình thi. Thật vậy, với phạm vi bao quát rộng của đề thi, TS khó có thể chuẩn bị tài liệu để quay cóp. Vậy liệu họ có nhìn bài nhau được không? Đã có các biện pháp để hạn chế tối đa hiện tượng này, chẳng hạn: công nghệ mới giúp dễ dàng soạn các đề thi tương đương có cùng nội dung bằng cách xáo trộn thứ tự các câu trắc nghiệm và các phương án trả lời. TS ngồi gần nhau sẽ nhận được các đề thi hoàn toàn khác biệt nhau về hình thức, họ sẽ phải đánh dấu vào phiếu trả lời theo những cách hoàn toàn khác nhau, do đó rất khó cóp bài của nhau.

Cũng có ý kiến lo lắng rằng phương pháp trắc nghiệm không đánh giá được những khả năng tư duy ở mức độ cao. Thật ra, thực tế chứng tỏ rằng có thể viết các CH TNKQ để đánh giá tất cả 6 cấp độ nhận thức đã nêu trước đây, tuy rằng việc viết được những CH trắc nghiệm để đánh giá mức độ tư duy cao thường là khó khăn, đòi hỏi sự thuần thục trong kỹ năng việc viết câu hỏi. Và cũng phải thừa nhận rằng để đánh giá những năng lực tư duy ở cấp độ rất cao thì phương pháp TL có nhiểu thuận lợi hơn phương pháp TNKQ, vì việc trả lời các CH TNKQ dù khó đến đâu cũng vẫn được thực hiện trong các khuôn khổ cho sẵn.

Qua những điều đã tìm hiểu có thể thấy rằng cả hai phương pháp, TNKQ và TL, đều là những phương pháp hữu hiệu để đánh giá kết quả học tập. Cần nắm vững bản chất từng phương pháp và công nghệ triển khai cụ thể để có thể sử dụng mỗi phương pháp đúng lúc, đúng chỗ.

Các chuyên gia về đánh giá cho rằng phương pháp tự luận nên dùng trong các trường hợp sau:

1. Khi TS không quá đông;

2. Khi muốn khuyến khích và đánh giá cách diễn đạt;

3. Khi muốn tìm hiểu ý tưởng của TS hơn là khảo sát thành quả học tập;

4. Khi có thể tin tưởng khả năng chấm bài tự luận của giáo viên là chính xác;

5. Khi không có nhiều thời gian soạn đề nhưng có đủ thời gian để chấm bài.

Phương pháp trắc nghiệm nên dùng trong những trường hợp sau:

1. Khi số TS rất đông;

2. Khi muốn chấm bài nhanh;

3. Khi muốn có điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào người chấm bài;

4. Khi phải coi trọng yếu tố công bằng, vô tư, chính xác và muốn ngăn chặn sự gian lận trong thi cử;

5. Khi muốn kiểm tra một phạm vi hiểu biết rộng, muốn ngăn ngừa nạn học tủ, học vẹt và giảm thiểu sự may rủi.

4. Cách viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan, câu hỏi tự luận

Nhiều sách chuyên khảo có trình bày tỷ mỷ những điều cần lưu ý khi viết các CH trắc nghiệm khách quan và tự luận. Ở đây chỉ xin nêu ngắn gọn những lưu ý chung nhất.

Cách viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan:

Yêu cầu chung:

1. Sử dụng ngôn ngữ phù hợp với thí sinh.

2. Không hỏi ý kiến riêng của thí sinh, chỉ hỏi sự kiện, kiến thức.

Loại nhiều lựa chọn

1. Các phương án sai phải có vẻ hợp lý.

2. Chỉ nên dùng 4 hoặc 5 phương án chọn.

3. Đảm bảo cho câu dẫn nối liền với mọi phương án chọn theo đúng ngữ pháp

4. Chỉ có một phương án chọn là đúng hoặc đúng nhất.

5. Tránh dùng câu phủ định, đặc biệt là phủ định hai lần.

6. Tránh lạm dụng kiểu ”Không phương án nào trên đây đúng” hoặc “mọi phương án trên đây đều đúng”.

7. Tránh việc tạo phương án đúng khác biệt so với các phương án khác (dài hơn hoặc ngắn hơn, mô tả tỉ mỉ hơn...)

8. Phải sắp xếp phương án đúng theo thứ tự ngẫu nhiên.

Loại đúng sai:

1. Câu phát biểu phải hoàn toàn đúng hoặc sai, không có ngoại lệ.

2. Soạn câu trả lời thật đơn giản

3. Tránh dùng câu phủ định, đặc biệt là phủ định hai lần.

Loại ghép đôi:

1. Hướng dẫn rõ về yêu cầu của việc ghép cho phù hợp

2. Đánh số ở một cột và chữ ở cột kia.

3. Các dòng trên mỗi cột phải tương đương về nội dung, hình thức, ngữ pháp, độ dài

4. Tránh các câu phủ định.

5. Số từ trên hai cột không như nhau, thường chỉ nên từ 5 đến 10.

Loại điền khuyết:

1. Chỉ để một chỗ trống.

2. Thiết kế sao cho có thể trả lời bằng một từ đơn nhất mang tính đặc trưng (người, vật, điạ điểm, thời gian, khái niệm).

3. Cung cấp đủ thông tin để chọn từ trả lời

4. Chỉ có một lựa chọn là đúng

Cách viết câu hỏi tự luận:

Tự luận là kiểu trắc nghiệm thuận lợi cho việc đánh giá cách diễn đạt và những khả năng tư duy ở mức độ cao, tuy nhiên khó chấm một cách khách quan. Để phát huy ưu điểm của loại trắc nghiệm này và hạn chế độ thiên lệch của việc chấm bài, cần lưu ý các điểm sau đây:

1. Đảm bảo sao cho đề tự luận phù hợp với mục tiêu học tập và nội dung giảng dạy.

2. Làm cho TS hiểu rõ họ phải trả lời cái gì. Câu cần rõ ràng và xác định. Nếu cần bài tự luận cụ thể hơn, có thể phác hoạ cấu trúc chung của bài tự luận.

3. Cho TS biết sẽ sử dụng các tiêu chí nào để đánh giá bài tự luận, sẽ cho điểm như thế nào.

4. Lưu ý TS về bố cục và ngữ pháp;

5. Nên sử dụng những câu từ khuyến khích tư duy sáng tạo, bộc lộ óc phê phán và ý kiến cá nhân.

6. Nêu những tài liệu chính cần tham khảo;

7. Cho giới hạn độ dài (số từ)

8. Đảm bảo đủ thời gian để TS làm bài khi làm ở lớp hoặc thời hạn nộp bài khi làm ở nhà.

9. Khi ra đề bài tự luận có cấu trúc, nên quy định tỷ lệ điểm cho mỗi phần, và khi chấm bài nên chấm từng phần cho mọi thí sinh.

 

Obtener Plugin Flash para visualizar este reproductor

Hỗ trợ trực tuyến
 Hỗ trợ khách hàng
  Hỗ trợ 01 Ms Ngoc Anh : 092 577 9596
  Hỗ trợ 02 Ms Ngoc Anh : 092 577 9596
 Kinh doanh
  Kinh Doanh 01 Ms Ngoc Anh : 092 577 9596
  Kinh Doanh 02 Ms Ngoc Anh : 092 577 9596
  Kinh Doanh 03 Ms Ngoc Anh : 092 577 9596
 Kỹ thuật
  Kỹ Thuật 01 Mr.Hiep : 0986 727 521
  Kỹ Thuật 02 Mr.Hà: 0986 727 521
  Kỹ Thuật 03 Mr.Mạnh : 0986 727 521
  Kỹ Thuật 04 Mr.Truong: 0984 724 238
Đối tác đã triển khai
Trường Đại học Sư phạm Hà nội
Trường Đại học Mở TPHCM 
Trường Đại học Y Hà nội
Trường Đại học Đà nẵng 
Trường Cao  đẳng Việt hàn 
Trường Cao  đẳng Sự phạm Nghệ an
Trường CĐ Nông nghiệp Bắc bộ
 Sở giáo dục tỉnh Vĩnh long
 Sở giáo dục TP Hà nội
CÔNG TY CỔ PHẦN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC VIỆT NAM (EDTECH-VN)
Add: Tầng 6-Phòng 606-Khu đô thị nhà ở và thương mại Nàng Hương-583 Nguyễn Trãi-Thanh Xuân-Hà Nội
Tel: (84-4) 35145566 - Fax: (84-4) 35148890 - Email: contact@edtech.com.vn